Tổng quan về tâm lý học quản lý

Trong bài viết này, chuyendetotnghiep.net xin giới thiệu với bạn đọc tổng quan về tâm lý học quản lý bao gồm: Khái niệm, tính chất và cơ cấu hoạt động, vai trò và ý nghĩa của tâm lý học một cách rõ nét nhất.

Tổng quan về tâm lý học quản lý

1. Tâm lý học quản lý là gì? 

Tâm lý học quản lý là một ngành của khoa học tâm lý. Nó nghiên cứu đặc điểm tâm lý của con người trong hoạt động quản lý, đề ra, kiến nghị và sử dụng các nhân tố khi xây dựng và điều hành các hệ thống xã hội. 

Tâm lý học quản lý giúp cho người lãnh đạo nghiên cứu những người dưới quyền mình, nhìn thấy được những hành vi của cấp dưới, sắp xếp cán bộ một cách hợp lý phù hợp với khả năng của họ. Tâm lý học quản lý giúp người lãnh đạo biết cách ứng xử, tác động mềm dẻo nhưng cương quyết với cấp dưới và lãnh đạo được những hành vi của họ, đoàn kết thống nhất tập thể những con người dưới quyền. 

>>> Xem thêm: Hướng dẫn cách làm luận văn tốt nghiệp hay và chuyên nghiệp

Như vậy, muốn thực hiện tốt chức năng quản lý của mình, người lãnh đạo không chỉ có những kiến thức kinh tế, kỹ thuật và quản lý mà cần am hiểu kiến thức về tâm lý nữa. 

Nghệ thuật quản lý và lãnh đạo là giúp cho họ am hiểu được kiến thức tâm lý và làm chủ nó nhằm phát huy khả năng chủ quan của con người tạo ra một sức mạnh quần chúng lớn lao, đem lại hiệu quả tổng hợp cao. 

Trong lịch sử phát triển của nhân loại, hoạt động quản lý đã xuất hiện rất sớm cùng với sự hình thành các cộng đồng người. Từ xa xưa, các nhà quản lý và các nhà tư tưởng đã thấy rõ vai trò của nhân tố con người trong hoạt động này. Các nhà triết học hy lạp cổ đại như Xôcrat (460 –399 trước công nguyên) đã từng chỉ ra rằng, trong hoạt động quản lý, nếu biết sử dụng con người thì sẽ thành công, nếu không làm được việc đó sẽ mắc sai lầm và thất bại. 

Thực tiễn cho thấy, bất kể hoạt động quản lý nào, dù là quản lý xã hội, quản lý kinh tế, quản lý khoa học kỹ thuật …muốn thực hiện tốt mục đích đề ra thì phải nhận thức đúng và vận dụng sáng tạo khoa học về nhân tố con người. Bởi lẽ con người luôn giữ vị trí trung tâm trong hoạt động quản lý luôn luôn là chủ thể của thế giới nội tâm phong phú, với những thuộc tính muôn màu, muôn vẻ. Các yếu tố đó, một mặt là sản phẩm của hoạt động con người, của các điều kiện kinh tế xã hội, mặt khác là động lực nội sinh đóng vai trò thúc đẩy hoặc cản trở hoạt động quản lý. 

Tâm lý học ngày nay không chỉ là khoa học về con người , mà trở thành một trong những cơ sở khoa học quan trọng của toàn bộ quá trình quản lý – quản lý kinh tế, quản lý xã hội cũng như quản lý doanh nghiệp. Bởi vậy, việc nghiên cứu tìm hiểu những cơ sở tâm lý học của công tác quản lý là một yêu cầu khách quan và bức thiết đối với tất cả những ai quan tâm đến việc cải tiến quản lý, nâng cao hiệu quả quá trình quản lý, làm tốt việc tuyển chọn, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ quản lý.

Sau đây chúng ta tìm hiểu một số vấn đề của tâm lý trong công tác quản lý nói chung và quản trị kinh doanh nói riêng. 

2. Tính chất và cơ cấu hoạt động quản lý

2.1. Tính chất của hoạt động quản lý 

Trước hết là hoạt động tổ chức, hướng dẫn, sử dụng, điều khiển con người. Trong hoạt động này, nhà quản trị phải phối hợp hoạt động của các thành viên, tổ chức cho họ hoạt động nhằm đạt được mục đích của đơn vị. Hoạt động quản trị kinh doanh cũng là hoạt động sử dụng, đánh giá điều khiển con người. 

Nhà quản trị phải hiểu được tính chất về đạo đức, tài năng, tính tình và các đặc điểm khác của các thành viên để sử dụng họ vào đúng những công việc phù hợp với họ phát huy khả năng của họ cũng như đem lại lợi ích cao nhất cho tập thể. Nhà quản trị phải đánh giá đúng khả năng cũng như kết quả hoạt động của họ từ đó có cách đối xử khéo léo, phù hợp. 

Đặc biệt hoạt động quản trị kinh doanh còn phức tạp hơn. Đó là hoạt động liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như chính trị, giao tiếp, kinh tế, văn hóa quân sự…Đó là hoạt động phụ thuộc vào kinh tế thị trường nhưng cũng dễ bị chi phối bởi sự may mắn hay rủi ro, là hoạt động phải đảm bảo có lợi nhuận nhưng cũng phải mang tính nhân bản. Hoạt động này cũng luôn luôn phải tuân theo các quy luật tâm lý con người nhưng lại phải đảm bảo chữ tín trong mọi quan hệ giao dịch. Nhà quản trị kinh doanh, thương mại phải rất nhạy cảm, tinh tế, linh hoạt, năng động, phải giàu kinh nghiệm từng trải, hiểu đời và nắm vững kiến thức kinh doanh thương mại. 

Từ những đặc điểm trên, có thể thấy nhà quản trị kinh doanh phải là người có năng lực toàn diện. Họ phải có trình độ cao về nhận thức về tư duy, có kiến thức sâu rộng về nhiều lĩnh vực nhất là khoa học quản lý, đời sống tâm lý xã hội, tâm lý tập thể, nhất là tâm lý con người. 

Nhà quản trị phải có năng lực chuyên môn cũng như có các năng lực chung về giao tiếp, xã giao và năng lực quản lý, phải hiểu người nhưng cũng phải thực hiểu mình, thấy được chỗ mạnh, chỗ yếu, cái đúng, cái sai của mình, luôn tự rèn luyện, vươn lên để lãnh đạo tập thể ngày càng có hiệu quả hơn.

2.2. Cơ cấu hoạt động quản lý 

Hoạt động quản trị kinh doanh là hoạt động tâm lý xã hội trong công tác quản trị, nhà quản trị luôn phải xây dựng các mối quan hệ giữa người với người, giải quyết các vấn đề tâm lý xã hội như tâm lý trong các nhóm, trong tập thể , đặc biệt lá các vấn đề tâm lý giao tiếp. Nhà quản trị luôn phải cư xử với nhiều đối tượng khác nhau (cấp trên, cấp dưới, đồng nghiệp), luôn phải chú trọng đến các hoạt động giao tiếp, giao tế với nhiều tầng lớp và các tổ chức xã hội… 

Nhà quản trị luôn phải tác động vào tâm lý của mọi người, của xã hội, phải nắm được và giải quyết các vấn đề tâm tư nguyện vọng của cấp dưới, tâm trạng, tình cảm của tập thể, dư luận, tin đồn trong tập thể ngoài xã hội và nhiều vấn đề tâm lý xã hội phức tạp khác.

Hoạt động quản trị là hoạt động tiếp cận với các vấn đề khoa học kỹ thuật mới. Trong hoạt động của mình, nhà quản trị luôn phải giải quyết các vấn đề khoa học kỹ thuật trong các lĩnh vực chuyên môn, lĩnh vực quản lý, phải nắm được các phát minh khoa học mới nhất về nhiều lĩnh vực liên quan như: 

Quy trình sản xuất, trang thiết bị hiện đại, nguyên liệu, nhiên liệu…tương ứng với lĩnh vực quản trị của mình. Nhất là trong quản trị kinh doanh hiện đại, việc nắm vững và vận dụng kịp  thời các vấn đề khoa học kỹ thuật mới (đặc biệt là tin học, thống kê, quản trị, và các khoa học chuyên môn) sẽ quyết định hiệu quả của công tác quản lý.

Hoạt động quản lý bị chi phối mạnh mẽ bởi yếu tố thời gian. Nhà quản lý phải quyết định vấn đề một cách nhanh chóng kịp thời trước một tình huống cụ thể nào đó. Có khi nhà quản lý không có thời gian để suy nghĩ , nghiền ngẫm mà phải quyết định ngay lập tức, nếu chậm sẽ gây hậu quả nghiêm trọng. Hoạt động quản lý luôn đòi hỏi tính kế hoạch cao trong công việc để đảm bảo sự đồng bộ và phối hợp nhịp nhàng giữa các thành viên, các bộ phận tập thể. 

Hoạt động quản lý là hoạt động tư duy sáng tạo. Trong hoạt động quản lý, nhà quản lý phải xây dựng kế hoạch hoạt động, đề ra nhiệm vụ mới,trước mỗi tình huống nảy sinh phải tìm cách giải quyết thích hợp…Nhà quản lý luôn luôn phải tiếp xúc và giải quyết nhiều vấn đề thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống, luôn phải tiếp xúc với cái mới, cái biến động và những yếu tố phức tạp đa dạng của đơn vị của xã hội, của khoa học kỹ thuật. Hoạt động quản lý là hoạt động trí tuệ căng thẳng và phức tạp. 

3. Vai trò và ý nghĩa của tâm lý học quản lý  

3.1. Vai trò của tâm lý học quản lý 

Về mặt lý thuyết tâm lý học quản lý giúp các nhà quản lý có được một hệ thống lý luận và nhận thức được các quy luật chung nhất trong việc quản lý con người trong đối nhân xử thế khi quản lý và lãnh đạo quần chúng. Mặt khác, nó còn giúp các nhà lãnh đạo tránh được những sai lầm trong tuyển chọn cán bộ, trong ứng xử, trong giao tiếp trong hoạch định chính sách và kế hoạch quản lý. 

Về mặt thực tiễn và ứng dụng, tâm lý học quản trị đã mang lại nhiều lợi ích cho công tác quản lý, tạo ra năng suất và hiệu quả lao động cao hơn, làm cho xã hội ngày càng văn minh và tiến bộ hơn. Có thể nêu một số tác động chính của tâm lý học quản trị trên các bình diện sau đây: 

3.1.1. Vận dụng tâm lý học trong công tác quản lý nhân sự 

Thực chất là vận dụng tâm lý học trong việc tổ chức, sử dụng đánh giá, điều khiển con người. Các tri thức về tâm lý học giúp các nhà quản lý hiểu biết về năng lực, sở trường, tính cách, đạo đức, sức khỏe … của con người. Từ đó có sự phân công hợp lý, phát huy thế mạnh của mỗi cá nhân, tạo năng suất lao động cao và tạo điều kiện phát triển con người. 

Ngoài ra tâm lý học quản lý còn giúp cho việc tuyển dụng nhân viên phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp. 

3.1.2. Vận dụng tâm lý học trong việc hoàn thiện các quy trình sản xuất, cải tiến các thao tác lao động 

Trong lĩnh vực này tâm lý học giúp các nhà quản lý giải quyết mối quan hệ giữa con người và máy móc. Con người phải học cách sử dụng, điều khiển máy móc đồng thời con người phải chế tạo, cải tiến máy móc cho phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của con người để đạt hiệu quả làm việc tốt nhất. 

Việc đưa ra các yếu tố thẩm mỹ vào môi trường sản xuất, kinh doanh như màu sắc âm nhạc …tạo nên tâm trạng thoải mái, nhẹ nhàng, giảm mệt mỏi, căng thẳng cho người lao động.

3.1.3. Vận dụng tâm lý học trong việc giải quyết những vấn đề tâm lý học xã hội trong tập thể lao động

 Mối quan hệ giữa các nhóm các phòng ban trong doanh nghiệp, xây dựng bầu không khí tâm lý tốt đẹp, lành mạnh của tập thể, dư luận tập thể, truyền thống của doanh nghiệp, ngăn chặn và xử lý kịp thời các mâu thuẫn và xung đột xảy ra trong tập thể nếu có … 

3.1.4. Vận dụng tâm lý học để hoàn thiện nhân cách, năng lực quản lý bộ máy, quản lý doanh nghiệp và của bản thân người lãnh đạo

Nhân cách con người quản lý ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động quản lý, tâm lý học nêu ra những phẩm chất và năng lực cần thiết giúp các nhà lãnh đạo dựa vào đó để hoàn thiện mình hơn. Các vấn đề uy tín phong cách của người lãnh đạo…và các vấn đề khác có thể giúp các nhà các nhà lãnh đạo tránh được sai lầm trong quan hệ người với người. 

Công tác quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật và cả sự sáng tạo. Vì vậy nhà lãnh đạo rất cần những tri thức về quản lý, về tâm lý học và các tri thức khác để có thể đảm đương tốt vai trò “người cầm lái” trong tập thể lao động. 

3.2. Ý nghĩa của tâm lý học quản lý 

Trong những năm gần đây, do tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, công nghệ năng lượng … nền kinh thế giới đang biến đổi sâu sắc, mạnh mẽ về cơ cấu, chức năng và phương thức hoạt động. Đó không phải là sự biến đổi bình thường mà là một bước ngoặt lịch sử có ý nghĩa trọng đại đưa nền kinh tế toàn cầu từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức, nền văn minh loài người từ văn minh công nghiệp sang văn minh trí tuệ. 

Ở bất cứ nền kinh tế nào, nền văn minh nào, bất cứ ngành nghề nào, hễ đã có con người, người chỉ huy hay người thực hiện, người phục vụ hay người được phục vụ …thì hiệu quả hoạt động của ngành ấy tất yếu phụ thuộc vào những yếu tố tâm lý, thể chất của mỗi cá nhân với tư cách là một thành viên của một tập thể nhất định.

Tâm lý của con người là một dạng đặc biệt và là dạng cao nhất của sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc và não người. Hoạt động phản ánh có ý thức đó thể hiện ở các quá trình và trạng thái tâm lý như quá trình nhận thức, tình cảm, ý chí và các thuộc tính tâm lý như các phẩm chất, năng lực của cá nhân. Những điều mà hàng ngày chúng ta thường gọi là “ý thức”, “nhu cầu”, “động cơ”, “sở thích”, “ước mơ”, “thái độ”, “tác phong”… Khi gắn bó với một cá nhân cụ thể riêng biệt hay với nhiều cá nhân thuộc một nhóm, một tập thể nhất định thì đó chính là hiện trạng tâm lý- tâm lý của cá nhân và tâm lý xã hội. 

Trí thông minh, óc sáng tạo, năng khiếu, tính cách, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng, sự kiên trì, xúc cảm, yêu lao động, say mê âm nhạc, hội họa… chính là nội dung tâm lý của con người. Như vậy nếu khái niệm tâm lý học được hiểu một cách đầy đủ thì vai trò vị trí của tâm lý học đối với đời sống xã hội nói chung và đối với hoạt động quản lý, lãnh đạo nói riêng cũng sẽ được nhận thức một cách đúng. 

Để làm rõ điều này, ta có thể lấy một ví dụ khi tham quan một xí nghiệp hiện đại, được tự động hóa cao độ, chỉ thấy người làm việc bấm nút và quá trình sản xuất đều do máy thực hiện thì người ta đã bị các thiết bị hiện đại lôi cuốn sự chú ý, ít ai nghĩ đến vấn đề “tâm lý” ở đây. Thực ra tâm lý học kỹ thuật đã chỉ rõ ràng việc chế tạo các máy móc thiết bị cho đến hệ thống điều khiển điện tử phức tạp của nhà máy đó đều đã tính đến những yêu cầu tâm lý của người sử dụng, điều khiển.

Mặt khác, chính quá trình chế tạo hệ thống kỹ thuật tự động đã bao hàm hoạt động tâm lý. Đó là hoạt động sáng tạo, năng lực sáng tạo (tư duy, trí tuệ) là sự say mê, nhiệt tình sáng tạo (tình cảm) là nghị lực vượt qua nhiều khó khăn, trong sáng tạo (ý chí)… của các nhà khoa học, kỹ sư, công nhân nhà máy đó. Vì vậy các nhà lãnh đạo, chỉ đạo sản xuất cần phải có những hiểu biết thông thường về tâm lý học kỹ thuật, tâm lý học lao động. 

Trong những năm gần đây, tâm lý học đã có những bước tiến khá dài trên con đường phát triển. Cùng với sự trưởng thành của tâm lý học đại cương, tâm lý học sư phạm, tâm lý học lao động, tâm lý học trẻ em, tâm lý học quân sự…là sự hình thành và phát triển một loạt các ngành tâm lý học lý thuyết, thực nghiệm và ứng dụng như: tâm lý học nhân cách, tâm lý học xã hội, tâm lý học kỹ thuật, tâm lý học sản xuất, tâm lý học thể thao, tâm lý học quản lý… 

Muốn quản lý, lãnh đạo tốt cần phải nắm vững tâm lý, tâm lý cá nhân và tâm lý tập thể. Nhưng để nắm vững tâm lý tập thể và tâm lý cá nhân cần phải có tri thức về tâm lý đại cương làm cơ sở. Tùy theo yêu cầu công việc mà mỗi người nhất là nhà quản lý, lãnh đạo cần phải có tri thức tâm lý học cần thiết. Muốn giảng dạy và giáo dục tốt các thầy cô giáo phải biết được tâm lý lứa tuổi, tâm lý sư phạm. Giám đốc doanh nghiệp, các nhà quản trị muốn quản lý tốt nhân lực, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh cần nghiên cứu tâm lý học sản xuất, tâm lý học kinh doanh, tâm lý học quản trị. 

Như vậy, những kiến thức về tâm lý học sẽ là một cơ sở nền tảng khoa học quan trọng cho công tác quản lý xã hội nói chung và quản trị kinh doanh nói riêng.

4. Đối tượng, nhiệm vụ của tâm lý quản lý

4.1. Đối tượng của tâm lý học quản lý 

Đối tượng nghiên cứu trực tiếp của tâm lý quản trị là toàn bộ các hiện tượng tâm lý của cá nhân và tập thể người lao động ( khách thể của quản lý) như tình cảm, nguyện vọng, nhận thức, hành động của các cá nhân, đặc điểm tâm lý của nhóm, của tập thể, bầu không khí tâm lý tập thể, xung đột trong tập thể… 

Ngoài ra tâm lý học quản lý còn nghiên cứu các hoạt động tâm lý của bản thân nhà quản lý như đặc điểm nhân cách, phong cách, đạo đức, uy tín người lãnh đạo, những vấn đề tâm lý của việc ra quyết định… 

Tóm lại đối tượng nghiên cứu của tâm lý học quản lý là toàn bộ đời sống tâm lý của các thành viên trong doanh nghiệp, trong tổ chức kinh tế. Ngoài ra các vấn đề tâm lý khác của quá trình quản lý cũng là một trong những đối tượng nghiên cứu quan trọng của tâm lý học quản lý hiện đại. 

4.2. Nhiệm vụ của tâm lý học quản lý 

Việc xác định nhiệm vụ của tâm lý học quản lý cũng rất khó khăn. Quản lý và lãnh đạo là những quá trình rất phức tạp và đa dạng vì nó liên quan đến con người với những quan hệ xã hội muôn màu, muôn vẻ. Tâm lý học quản trị có nhiệm vụ góp phần đặt cơ sở khoa học cho việc nâng cao hiệu quả của quá trình quản lý. Ngay ở những nước tư bản, lợi nhuận luôn gắn liền với tổ chức sản xuất.

Vì vậy, việc tổ chức sản xuất kinh doanh như thế nào để đạt hiệu quả cao đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của các nhà sản xuất và các nhà nghiên cứu quản lý. Do đó một số nhiệm vụ cơ bản được đặt ra cho tâm lý học quản trị là: 

Nghiên cứu những cơ sở tâm lý của việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý, lãnh đạo cũng như việc nâng cao năng suất lao động của những người thực hiện.

Nghiên cứu những yêu cầu tâm lý học đối với việc tuyển chọn, bố trí, sử dụng cán bộ quản lý, lao động và những người thực hiện. 

Nghiên cứu những biện pháp tâm lý – sư phạm để đào tạo bồi dưỡng cán bộ, phát triển toàn bộ nhân cách của cán bộ, công nhân viên chức phát triển quan hệ xã hội tốt đẹp trong tập thể lao động cũng như trong tập thể lãnh đạo…