Tìm hiểu về quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là gì? Trong bài viết này, chuyendetotnghiep.net sẽ chia sẻ đến bạn những lý thuyết cơ bản nhất về quản lý giáo dục. 

Tìm hiểu về quản lý giáo dục

1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 

Giáo dục đạo đức cho thanh thiếu niên, nhất là học sinh là một bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể, góp phần trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh, công dân, vì thế đã có rất nhiều nhà giáo dục trong cũng như ngoài nước quan tâm.

>>> Xem thêm: Mẫu luận văn quản trị giáo dục mầm non

1.1. Các tác giả nước ngoài 

Từ thời cổ đại: Khổng Tử (551- 479 TCN) đã rất coi trọng việc giáo dục đạo đức trong nhân cách con người. Đó là việc giáo dục lòng nhân ái và biết sống có trên dưới, trung thực, thủy chung, có kỷ cương từ gia đình đến xã hội, nhằm giữ trọn bổn phận của tôi đối với vua, vợ đối với chồng, con cái đối với cha mẹ, em đối với anh, trò đối với thầy, bạn bè đối với nhau vv… có được như vậy thì gia đình sẽ được yên ấm, xã hội được bình an… 

J.A. Comenxki (1952-1670), ông tổ của nền giáo dục cận đại, đã đưa ra phương pháp giáo dục đạo đức trong đó chú trọng đến hành vi là động cơ đạo đức. 

Makarenco, đại diện cho nền giáo dục đương đại, đã nhấn mạnh đến vai trò của giáo dục đạo đức và các biện pháp giáo dục đúng đắn như sự nêu gương, “giáo dục trong tập thể và giáo dục bằng tập thể” trong các tác phẩm bài ca sư phạm, các vấn đề giáo dục người công dân (giáo dục trẻ em phạm pháp và không gia đình). Ông kết luận “Nhiệm vụ giáo dục của chúng ta nói tóm lại là giáo dục tập thể”. Điều đó có nghĩa là hình thành nhận thức, tình cảm, hành vi, thói quen tập thể; là góp phần tạo ra nhân sinh quan XHCN, bộ mặt đạo đức chủ yếu của con người mới XHCN để phân biệt với con người của giai cấp bóc lột- con người ích kỷ, cá nhân [33, 261].

Học thuyết giáo dục của Mác và Ăngghen là một bộ phận của chủ nghĩa cộng sản khoa học. Mác đã vạch ra quy luật tất yếu của xã hội tương lai là đào tạo, giáo dục những con người phát triển toàn diện, những người phát triển đầy đủ, tối đa năng lực sẵn có về tất cả mọi mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, tình cảm, nhận thức, năng lực, óc thẩm mỹ và có khả năng cảm thụ được tất cả những hiện tượng tự nhiên, xã hội xảy ra xung quanh, đồng thời có thể sáng tạo ra những cái mới theo khả năng của bản thân.

1.2. Các tác giả trong nước 

Ở nước ta, qua 1000 năm lịch sử, nền giáo dục vốn coi trọng giáo dục luân lý lễ nghĩa góp phần cơ bản xây dựng nền tảng đạo đức xã hội. Việc tìm hiểu, nghiên cứu về QLGD, QLGDĐĐ cũng là một trong những trọng tâm nghiên cứu của nhiều tác giả, nhà khoa học.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị anh hùng vĩ đại của dân tộc, đã thường nhấn mạnh đến giá trị đạo đức cách mạng là nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm và cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư…

Nghị quyết của hội nghị lần II của BCH TW đảng khóa VIII đã khẳng định: “Mục tiêu chủ yếu là giáo dục toàn diện đức, trí, thể, mỹ ở tất cả các bậc học, hết sức coi trọng giáo dục chính trị tư tưởng, nhân cách, khả năng tư duy sáng tạo và năng lực thực hành”.

Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề giáo dục đạo đức như: PGS.TS. Hà Nhất Thăng viết bài “Thực trạng đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống của thanh niên-sinh viên- học sinh”- Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 29/2002. 

Ngoài ra, các tác giả khác như Đặng Quốc Bảo, Bùi Minh Hiền, Hồ Văn Liên qua các giáo trình, các tập bài giảng dành cho các lớp Cao học Quản lý giáo dục cũng đã đi sâu vào phân tích những vấn đề, những lĩnh vực cơ bản trong quản lý nhà trường, trong đó có QLGDĐĐ cho HS.

Tác giả Trần Viết Lưu đã viết về “Gắn cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” với việc giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông”- Tạp chí Giáo dục (số 243/2010) 

Về công tác quản lý GDĐĐ cũng đã có nhiều tác giả nghiên cứu như: 

Tác giả Nguyễn Thị Đáp có đề tài: “Thực trạng việc quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh THPT huyện Long Thành và một số giải pháp” năm 2004. 

Tác giả Nguyễn Hữu Minh đã nghiên cứu đề tài “Thực trạng quản lý giáo dục học sinh chưa ngoan tại các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh thành phố Cần Thơ” năm 2009. 

Tác giả Tạ Thị Thu Hồng đã viết về “Thực trạng hoạt động quản lý giáo dục đạo đức học sinh một số trường trung cấp nghề tại Thành phố Hồ Chí Minh” năm 2010. 

Qua những đề tài trên, các tác giả đã đi sâu nghiên cứu thực trạng công tác QLGDĐĐ của Hiệu trưởng tại các cơ sở giáo dục đào tạo khác nhau, đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu của các biện pháp quản lý phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh thực tế từng cơ sở giáo dục.

Song vấn đề này, ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, về mặt lý luận và thực tiễn, chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống. Do đó, việc nghiên cứu, làm rõ cơ sở lý luận về hoạt động quản lý, quản lý GDĐĐ, đánh giá thực trạng công tác quản lý GDĐĐ để đề xuất một số biện pháp nhằm cải thiện chất lượng công tác quản lý giáo dục đạo đức ở các trường THPT tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu trong giai đoạn hiện nay. Chúng tôi mong rằng đề tài “Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường trung học phổ thông tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu” sẽ góp phần làm tư liệu tham khảo cho các nhà QLGD trên địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu nhằm nâng cao hiệu quả việc giáo dục đạo đức cho học sinh.

2. Một số khái niệm cơ bản 

2.1. Quản lý 

2.1.1. Khái niệm quản lý 

Như đối với bất kì khái niệm nào, có rất nhiều định nghĩa về thuật ngữ “quản lý”. Quản lý, theo Bách khoa toàn thư Liên Xô (cũ), là chức năng của những hệ thống có tổ chức với những bản chất khác nhau (kỹ thuật, sinh vật, xã hội) nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình, mục đích hoạt động.

Mary Parker Follett đưa ra định nghĩa khá nổi tiếng về quản lý và được trích dẫn khá nhiều là “Nghệ thuật hoàn thành công việc thông qua người khác”. Một định nghĩa được chấp nhận rộng rãi khác là “Quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên trong tổ chức và sử dụng mọi nguồn lực có sẵn của tổ chức để đạt những mục tiêu của tổ chức” (Stoner, 1995). Một tác giả khác cho rằng quản lý là “tập hợp các hoạt động (bao gồm cả lập kế hoạch, ra quyết định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra) nhằm sử dụng tất cả các nguồn lực của tổ chức (con người, tài chính, vật chất và thông tin) để đạt được những mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả (Griffin, 1998). 

Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó. 

Từ nhiều khái niệm cho thấy quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội, gồm những công việc chỉ huy và tạo điều kiện cho những người khác thực hiện công việc và đạt được mục đích của nhóm. 

2.1.2. Chức năng quản lý 

Người quản lý thực hiện rất nhiều hoạt động. Những hoạt động này có thể khác nhau tùy theo tổ chức, hay cấp bậc của người quản lý. Tuy nhiên, có một số nhiệm vụ cơ bản, phổ biến cho mọi người quản lý ở tất cả các tổ chức.

Người ta thường gọi nhiệm vụ chung nhất này là chức năng quản lý. Tùy theo cách phân chia mà ta có thể có số lượng các chức năng khác nhau. Cho tới nay, nhiều chuyên gia quản lý nhất trí cho rằng có bốn chức năng quản lý cơ bản sau: 

Kế hoạch hóa 

Là cầu nối giữa vị trí của tổ chức và nơi mà tổ chức muốn tới. Đây được coi là cơ bản nhất của tất cả các chức năng quản lý. Khi công việc của người quản lý trở nên phức tạp hơn và các nguồn tài nguyên trở nên khan hiếm, lập kế hoạch thậm chí trở nên quan trọng hơn đối với người quản lý và tổ chức. Người quản lý xây dựng kế hoạch bao gồm lựa chọn nhân sự, tổ chức các nguồn lực, kiểm tra và phối hợp của con người và các hoạt động để đạt được các mục tiêu đề ra. Có ba loại kế hoạch: kế hoạch chiến lược (giải quyết mục tiêu chiến lược), kế hoạch chiến thuật (giải quyết mục tiêu chiến thuật), và kế hoạch tác nghiệp (giải quyết mục tiêu tác nghiệp). 

Tổ chức 

Tổ chức có nghĩa là đảm bảo tất cả các hoạt động và quá trình được sắp xếp để tổ chức có thể đạt được mục tiêu. Những khía cạnh quan trọng nhất của việc tổ chức là nhận đúng người, xác định trách nhiệm của họ, phác thảo một tổ chức và cấu trúc những người lao động biết họ làm việc ở đâu, họ làm việc và báo cáo với ai. Tổ chức cũng có nghĩa sắp xếp để các cá nhân có khả năng cùng làm việc và liên hệ một cách tích cực với nhau, đảm bảo một môi trường lành mạnh khuyến khích làm việc có hiệu quả. 

Chỉ đạo 

Người quản lý phải học những kĩ năng lãnh đạo để làm việc có hiệu quả. Họ phải học cách đối xử với mọi người như thế nào và làm thế nào để tạo ảnh hưởng và khuyến khích họ để đảm bảo rằng công việc được thực hiện. Tóm lại, người quản lý cũng phải là những nhà lãnh đạo hiệu quả. Người lao động trong mỗi tổ chức đều có ý kiến riêng của mình và sẽ làm những gì họ muốn nếu họ không thích các mệnh lệnh hoặc hướng dẫn của người quản lý. 

Chức năng lãnh đạo của người quản lý bao gồm: 

  • Định hướng 
  • Tạo ảnh hưởng 
  • Giám sát 
  • Hướng dẫn 
  • Kiểm tra

Trong tất cả các tổ chức, phải tiến hành kiểm tra ở một mức độ nhất định có một mức độ đối với con người, tài chính, thời gian và các hoạt động. Nội dung của những việc kiểm tra bao gồm việc đo lường và hiệu chỉnh những công việc được thực hiện bởi những người cấp dưới để đảm bảo rằng những kế hoạch của tổ chức được thực hiện một cách có hiệu quả. 

Chức năng kiểm tra cho phép người quản lý xác định mức độ đáp ứng của tổ chức đối với những mục tiêu đã xác định. Từ đó lên kế hoạch để thực hiện mục tiêu. Qua chức năng kiểm tra, người quản lý có thể biết họ đạt được mục tiêu đến đâu và lên kế hoạch để thực hiện tốt mục tiêu đề ra.

Trong chu trình quản lý, cả bốn chức năng trên phải được thực hiện liên tiếp, đan xen vào nhau, phối hợp bổ sung cho nhau tạo sự kết nối từ chu kỳ này sang chu kỳ sau theo xu hướng phát triển. Trong đó yếu tố thông tin luôn giữ vai trò xuyên suốt, không thể thiếu trong việc thực hiện các chức năng quản lý và là cơ sở cho việc ra quyết định quản lý. Có thể biểu diễn mối quan hệ này qua sơ đồ dưới đây:

Sơ đồ mô tả về chu trình quản lý

2.2. Quản lý giáo dục là gì?

Khái niệm quản lý giáo dục:

“Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những hoạt động tự giác, (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” [23, tr.37, 38].

Trong tài liệu “Tổng quan về quản lý giáo dục” của trường cán bộ quản lý giáo dục – đào tạo có nêu: “ quản lý giáo dục là một loại hình được hiểu là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất”.

Chủ thể quản lý giáo dục là nhà quản lý, tập thể các nhà quản lý hay là bộ máy quản lý giáo dục. Trong trường học đó là Hiệu trưởng (cùng với bộ máy giúp việc của Hiệu trưởng) đến tập thể giáo viên; các tổ chức đoàn thể.

Khách thể quản lý giáo dục bao gồm trường học hoặc là sự nghiệp giáo dục trên địa bàn (cơ quan quản lý giáo dục các cấp); trong đó có bốn thành tố của một hệ thống xã hội: tư tưởng (quan điểm đường lối, nguyên lí chính sách chế độ, giáo dục …) con người (giáo viên, cán bộ CNV và các hoạt động của họ) quá trình giáo dục (diễn ra trong không gian và thời gian…) vật chất, tài chính (trường sở trang thiết bị kĩ thuật phục vụ cho giáo dục, ngân sách, ngân quỹ).

Chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản lý một cách có ý thức nhằm đạt được mục tiêu đề ra và chính các mục tiêu quản lý lại tham gia vào sự quy định bản chất của quản lý giáo dục.

Bản chất của quản lý giáo dục được biểu hiện ở các chức năng quản lý. Các công trình nghiên cứu về khoa học quản lý trong những năm gần đây đã đưa một kết luận tương đối thống nhất về năm chức năng cơ bản của quản lý là: Kế hoạch hóa, tổ chức, kích thích, kiểm tra, điều phối

  • Kế hoạch hóa: Lập kế hoạch, phổ biến kế hoạch
  • Tổ chức: Tổ chức triển khai, tổ chức nhân sự, phân công trách nhiệm
  • Kích thích: Khuyến khích, tạo động cơ
  • Kiểm tra: Kiểm soát, kiểm kê, hạch toán, phân tích
  • Điều phối: Phối hợp, điều chỉnh

Tổ hợp tất cả các chức năng quản lý tạo nên nội dung của quá trình quản lý, nội dung làm việc của chủ thể quản lý, phương pháp quản lý và là cơ sở để phân công lao động quản lý.

Trong tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý có sự tác động của người đến người, đó là sự tác động qua lại tạo thành một loại quan hệ xã hội đặc biệt là quan hệ quản lý. Trong nhà trường xã hội chủ nghĩa quan hệ quản lý có những nét đặc trưng về mặt chính trị – xã hội, biểu hiện bản chất ưu việt của chế độ quản lý trong xã hội chủ nghĩa: hợp tác tương trợ lẫn nhau giữa người quản lý và người được quản lý là tính nồng hậu nhân đạo, dựa trên sự thống nhất về mục đích và nguyên tắc quản lý, dựa trên sự thống nhất về lợi ích khi giải quyết các nhiệm vụ dựa trên sự ủng hộ tích cực và sáng kiến của chủ thể quản lý.

Vậy giáo dục là hoạt động có mục đích được tổ chức có kế hoạch, được chọn lựa về nội dung, phương pháp thực hiện có hệ thống nhằm tác động đến đối tượng nào đó, làm cho đối tượng đó dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra.

Mô hình về quản lý giáo dục

Mục tiêu quản lý giáo dục: 

Tương ứng với mục tiêu giáo dục, mục tiêu quản lý giáo dục cũng có hai cấp độ: cấp vĩ mô và cấp vi mô. Đối với cấp vĩ mô, quản lý giáo dục là những tác động của chủ thể quản lý đến toàn bộ các mắt xích của hệ thống giáo dục nhằm đào tạo thế hệ trẻ đáp ứng yêu cầu của xã hội. Mục tiêu giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân là và cũng là yêu cầu của xã hội đối với ngành giáo dục là: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. 

Sản phẩm của giáo dục là nhân cách của người học sinh, của thế hệ trẻ. Nghị quyết hội nghị lần thứ hai Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng (khóa VIII) chỉ rõ nhiệm vụ, mục tiêu cơ bản của giáo dục là “xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật; có sức khỏe, là những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” như lời căn dặn của Bác Hồ”. 

Như vậy, sản phẩm của giáo dục, sản phẩm của sự đào tạo của nhà trường là nhân cách người lao động mới có văn hóa, có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động, sáng tạo, có chí tiến thủ lập nghiệp, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội.

Điều 27 (luật giáo dục 2005) đã xác định mục tiêu của giáo dục phổ thông “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [3]. 

Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”. 

Đối với cấp vi mô, chẳng hạn như nhà trường, người hiệu trưởng phải tập trung quản lý sao cho các hoạt động giáo dục đạt hiệu quả tối đa trong điều kiện cho phép. Đó có thể là: 

Xây dựng đội ngũ giáo viên; 

Tranh thủ sự lãnh đạo và làm tốt công tác tham mưu với Đảng và chính quyền địa phương;

Xây dựng, bảo quản, phát huy hiệu lực sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị giảng dạy, giáo dục; 

Xây dựng các quy định, nề nếp sinh hoạt chuyên môn, hội họp, chế độ hành chính, văn thư trong nhà trường; 

Tổ chức xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh… 

2.3. Quản lý giáo dục đạo đức 

2.3.1. Đạo đức 

Đạo đức, hiểu theo nghĩa chung nhất, là một hình thái ý thức xã hội, bao gồm những nguyên tắc, chuẩn mực, định hướng giá trị được xã hội thừa nhận, có tác dụng chi phối, điều chỉnh hành vi của con người trong quan hệ với người khác và toàn xã hội. Theo “Từ điển tiếng Việt”: “Đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội. Phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo chuẩn mực đạo đức mà có”. 

Chủ nghĩa Mác – Lênin đã lý giải nguồn gốc, bản chất của đạo đức một cách khoa học. Theo C.Mác và Ph.Ăng-ghen, đạo đức được nảy sinh do nhu cầu của đời sống xã hội, là kết quả của sự phát triển lịch sử. Đạo đức sinh ra trước hết là từ nhu cầu phối hợp hành động trong lao động sản xuất vật chất, trong đấu tranh xã hội, trong phân phối sản phẩm để con người tồn tại và phát triển. Cùng với sự phát triển của sản xuất, của các quan hệ xã hội, hệ thống ý thức đạo đức, các quan hệ đạo đức, hành vi đạo đức cũng theo đó mà ngày càng phát triển, ngày càng nâng cao, phong phú, đa dạng và phức tạp.

Đạo đức là một phạm trù lịch sử, là kết quả của quá trình phát triển xã hội loài người. Đạo đức thuộc kiến trúc thượng tầng, chịu sự quy định bởi cơ sở hạ tầng. Do tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội nên trong xã hội có giai cấp, đạo đức mang tính giai cấp. Lợi ích của giai cấp thống trị là duy trì và củng cố những quan hệ xã hội đang có; trái lại, giai cấp bị bóc lột tuỳ theo nhận thức về tính bất công của những quan hệ ấy mà đứng lên đấu tranh chống lại và đề ra quan niệm đạo đức riêng của mình. Mặt khác, đạo đức cũng có tính kế thừa nhất định. Các hình thái kinh tế – xã hội thay thế nhau, nhưng xã hội vẫn giữ lại những điều kiện sinh hoạt, những hình thức cộng đồng chung. Tính kế thừa của đạo đức phản ánh “những luật lệ đơn giản và cơ bản của bất kì cộng đồng người nào” (V.I. Lênin). Đó là những yêu cầu đạo đức liên quan đến những hình thức liên hệ đơn giản nhất giữa người với người. Mọi thời đại đều lên án cái ác, tính tàn bạo, tham lam, hèn nhát, phản bội… và biểu dương cái thiện, sự dũng cảm, chính trực, độ lượng, khiêm tốn… 

Ngoài ra, đối với mỗi cá nhân, ý thức và hành vi đạo đức mang tính tự giác, chủ yếu xuất phát từ nhu cầu bên trong; đồng thời chịu tác động của dư luận xã hội, sự kiểm tra của những người xung quanh. Từ đó, con người tự giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của mình và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, con người với tự nhiên và xã hội. Đạo đức xã hội bao gồm ý thức đạo đức, hành vi đạo đức và quan hệ đạo đức. 

thức đạo đức là toàn bộ những quan niệm về thiện, ác, tốt, xấu, lương tâm, trách nhiệm, hạnh phúc, công bằng… và về những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi, ứng xử của cá nhân với xã hội, giữa cá nhân với cá nhân.

Hành vi đạo đức là sự biểu hiện trong ứng xử của ý thức đạo đức mà con người đã nhận thức và lựa chọn. Đó là sự ứng xử trong các mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, với xã hội, với tự nhiên và với chính mình. Do hành đạo đức bắt nguồn từ ý thức đạo đức nên đạo đức thường tỷ lệ thuận với trình độ học vấn, trình độ nhận thức của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, không phải cứ có trình độ học vấn cao là có văn hóa, đạo đức cao và ngược lại, bởi sự khác biệt và có khoảng cách giữa ý thức đạo đức và hành vi đạo đức, giữa nhận thức và hành động của mỗi con người. 

Quan hệ đạo đức là hệ thống những mối quan hệ giữa người với người trong xã hội. Quan hệ đạo đức thể hiện dưới các phạm trù bổn phận, lương tâm, nghĩa vụ, trách nhiệm, quyền lợi…giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với tập thể, cộng đồng và toàn xã hội.

2.3.2. Giáo dục đạo đức 

Giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến học sinh nhằm giúp cho nhân cách mỗi học sinh được phát triển đúng đắn, giúp học sinh có những hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ: cá nhân với xã hội, cá nhân với lao động, cá nhân với môi trường tự nhiên và cá nhân với chính mình. Đó là một quá trình lâu dài, phức tạp, đòi hỏi công phu, kiên trì, liên tục và lặp đi lặp lại nhiều lần. Đó còn là quá trình hình thành và phát triển đạo đức của con người; là quá trình tác động qua lại giữa xã hội và cá nhân để chuyển hóa những nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực, giá trị đạo đức – xã hội thành những phẩm chất đạo đức cá nhân, làm cho cá nhân đó trưởng thành về mặt đạo đức, đáp ứng yêu cầu của xã hội. 

Quá trình giáo dục đạo đức là quá trình tác động đến người học để hình thành cho họ ý thức, tình cảm và niềm tin, hành vi, đích cuối cùng và quan trọng nhất là tạo lập cho học sinh những thói quen hành vi đạo đức. Có thể hiểu, quá trình giáo dục đạo đức là một hoạt động có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch nhằm biến đổi những nhu cầu tư tưởng đạo đức, giá trị đạo đức của cá nhân phù hợp với chuẩn mực đạo đức; góp phần phát triển nhân cách của mỗi cá nhân và thúc đẩy sự phát triển, tiến bộ của xã hội. 

Trong tất cả các mặt giáo dục, giáo dục đạo đức giữ một vị trí hết sức quan trọng. Từ xưa, ông cha ta đã đúc kết một cách sâu sắc kinh nghiệm về giáo dục “Tiên học lễ, Hậu học văn”. Ngày nay, phương châm “dạy người, dạy chữ, dạy nghề” cũng thể hiện rõ tầm quan trọng của hoạt động giáo dục đạo đức. Bởi vậy, trong khi dạy tri thức chuyên môn nhất thiết phải dạy đạo đức nhằm tạo ra sản phẩm là những công dân vừa hồng vừa chuyên.

Giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến học sinh nhằm hình thành và phát triển ý thức, tình cảm, niềm tin và thói quen đạo đức của học sinh giúp cho nhân cách mỗi học sinh được phát triển toàn diện.

Quá trình giáo dục đạo đức giống như các quá trình giáo dục khác là có sự tham gia của chủ thể giáo dục và đối tượng giáo dục. Theo đó, chủ thể tham gia vào quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh là thầy cô giáo, cha mẹ học sinh, các lực lượng giáo dục trong xã hội. Trong trường THPT, đó là tập thể sư phạm nhà trường, tổ chức Đoàn TNCS HCM… và người Hiệu trưởng với vai trò là người quản lý, chỉ đạo , phối hợp thực hiện các hoạt động GDĐĐ cho học sinh. Học sinh là đối tượng của quá trình giáo dục, chịu tác động của giáo viên và các lực lượng giáo dục khác. Học sinh còn là chủ thể tích cực, tự giác tiếp thu các chuẩn mực đạo đức và tham gia các hoạt động để thể hiện các giá trị đạo đức. 

2.3.3. Quản lý giáo dục đạo đức 

Nhà trường là một cơ quan giáo dục chuyên biệt thực hiện chức năng giáo dục và đào tạo. GSTS Phạm Minh Hạc cho rằng “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, được nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục- với thế hệ trẻ- với trường học”. 

Trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, Hiệu trưởng cần đảm bảo sự lãnh đạo chặt chẽ của các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương của cấp trên đối với hoạt động của nhà trường, giữ mối quan hệ mật thiết với các tổ chức kinh tế, văn hóa, xã hội ở địa phương và lôi cuốn các tổ chức đó vào sự nghiệp trồng người. Xây dựng cơ cấu hoạt động của Hội cha mẹ học sinh nhằm góp phần giáo dục toàn diện cho học sinh, trong đó có giáo dục đạo đức.

Các Phó hiệu trưởng, giáo viên bộ môn và giáo viên chủ nhiệm, quản sinh, các tổ chức trong nhà trường như Công đoàn, Đoàn thanh niên cùng tham gia phối hợp và giúp Hiệu trưởng quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh.

Tính hiệu quả của quản lý công việc nhà trường, đặc biệt là quản lý giáo dục đạo đức, phụ thuộc trực tiếp vào sự phong phú của các phương pháp lao động quản lý của Hiệu trưởng, vào kỹ năng vận dụng trong từng tình huống những phương pháp và biện pháp bảo đảm hiệu quả thật sự. A.V. Makarenco đã khẳng định “mọi người đều có thể có tài nghệ điêu luyện nếu chúng ta giúp đỡ họ và nếu bản thân họ làm việc. Và chỉ có thể có tài nghệ điêu luyện trong một tập thể giáo dục tốt” [24, tr. 226]. 

Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trước hết thể hiện ở các chức năng quản lý giáo dục: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá.

Từ khóa liên quan: quản lý giáo dục hậu giang