Mẫu luận văn quản trị giáo dục mầm non

Bạn đang muốn tìm tài liệu tham khảo để làm luận văn về giáo dục dục mầm non? Trong bài viết này, chuyendetotnghiep.net xin chia sẻ với bạn đọc về mẫu luận văn quản trị giáo dục mầm non chi tiết nhất.

Mẫu luận văn quản trị giáo dục mầm non

1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1. Những nghiên cứu về chất lượng CS-GD trẻ mầm non

1.1.1. Những nghiên cứu ở  nước ngoài

Chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ ở lứa tuổi mầm non là vấn đề được quan tâm nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới.

>>> Xem thêm: Tìm hiểu về quản lý giáo dục

Ngay những năm đầu thế kỷ XX, vấn đề chăm sóc – giáo dục trẻ mầm non đã nhận được sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà giáo dục. Năm 1907, tiến sĩ Maria Montessori đã thành lập trường mẫu giáo đầu tiên tại Roma. Ngay từ ngày đầu thành lập trường, vấn đề chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ đã được bà hết sức chú trọng. Điều này được thể hiện qua hệ thống các quan điểm và phương pháp giáo dục (phương pháp Montessori). Montessori đặt nền tảng tự do, nhu cầu và hứng thú của trẻ lên trên hết. Khi các nhu cầu của trẻ được đáp ứng, trẻ phát triển cân đối về thể chất, trí tuệ, tâm lý. Đặc biệt, trẻ được tạo động lực để có hứng thú trong việc học và cư xử hoà nhã lịch sự với mọi người. Phương pháp Montessori sau đó được phát triển và mở rộng ở các nước châu Âu và Mỹ cho đến tận ngày nay. Hiện nay, phương pháp này được nghiên cứu ứng dụng rộng rãi ở các trường MN, nhất là các trường MN tư thục và MN quốc tế ở các thành phố lớn của Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng CS-GD trẻ [24].

Từ những năm 20 của thế kỷ XX, N.C. Crupxcaia đã phác thảo chương trình, kế hoạch xây dựng hệ thống nhà trẻ mẫu giáo trong toàn Liên bang Xô Viết. Bà là người đặt cơ sở cho khoa học giáo dục MN theo quan điểm Mác- xít, trong đó có vấn đề chất lượng CS-GD trẻ [63]. Vấn đề này được tiếp tục quan tâm nghiên cứu bởi các nhà giáo dục Liên Xô cũ và Liên bang Nga hiện nay như E.V. Triphinôva, T.I. Alieva, N.M. Rôdina, N.E. Vaciocova, V.Nhikitina, V.I.Slobodchikova, Т.N. Boguslavskaia U. Elena và nhiều tác giả khác [96], [98], [99], [102], [103]…

Trong công trình nghiên cứu “Chất lượng giáo dục mầm non”, tác giả S.V.Nhikitina đã đưa ra quan điểm về chất lượng CS-GD trẻ MN, thực trạng chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ ở các vườn trẻ ở Liên bang Nga hiện nay, các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục mầm non. Theo bà, tiêu chí cơ bản để đánh giá chất lượng CS-GD trẻ được thể hiện ở các nội dung cơ bản sau [99]:

Sức khỏe và sự phát triển thể chất của học sinh,

Nhận thức và sự phát triển ngôn ngữ của học sinh,

Phát triển xã hội và cá nhân của học sinh,

Phát triển nghệ thuật và thẩm mỹ của học sinh.

Ngoài việc luận bàn về khái niệm chất lượng giáo dục mầm non, trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả V.I.Slobodchikova, nhấn mạnh việc sử dụng tích hợp các phương pháp tiếp cận cơ bản để đánh giá chất lượng giáo dục mầm non, các chỉ số và tiêu chí về chất lượng CS-GD trẻ ở trường mầm non. Tác giả cũng đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của giáo dục mầm non gồm các yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài [98].

Các tác giả E.V. Triphinôva, T.I. Alieva, N.M. Rôdina, N.E. Vaciocova trong bài báo “Sự phát triển và thử nghiệm các mô hình đánh giá chất lượng giáo dục mầm non” đã nghiên cứu nội dung và cơ chế đảm bảo chất lượng giáo dục mầm non, đề xuất các mô hình và công cụ đánh giá chất lượng GDMN [103].

Tác giả U. Elena trong bài viết “Đánh giá chất lượng trường MN” đã xác định mục tiêu và nhiệm vụ xác định chất lượng GD MN, cơ sở triết học của chất lượng trường MN; các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng CS-GD trẻ ở trường MN [102].

Ngoài ra, chất lượng CS-GD trẻ MN được quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả khác như: Overchuk với “Chất lượng giáo dục mầm non: thực trạng, vấn đề và triển vọng”; Hội thảo khoa học Chelyabinsk về “Chất lượng giáo dục mầm non: lý luận và kinh nghiệm thực tiễn” [107]…

Nhìn chung, chất lượng CS-GD trẻ MN là vấn đề được các nhà giáo dục liên bang Nga hết sức quan tâm, xem đây là vấn đề có tính cấp thiết, vấn đề thời sự trong giáo dục MN hiện nay.

Ở các nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, Úc, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc… giáo dục MN được hết sức chú trọng. Vì vậy, chất lượng CS-GD trẻ MN cũng là vấn đề được quan tâm nghiên cứu của các nhà giáo dục [84], [85], [86], [87], [88], [89], [90], [91].

Ở Mỹ, nhà trẻ chủ yếu là do tư nhân thành lập. Nhà trẻ của Mỹ dù là công lập hay tư thục đều thu phí trong đó nhà trẻ tư thu phí cao hơn nhiều so với nhà trẻ công. Giáo dục MN ở Úc cũng được chính phủ hết sức quan tâm. Hiện nay, chính phủ Úc cam kết chất lượng phổ cập giáo dục mầm non là một chương trình nghị sự. Giáo dục mầm non và chăm sóc trẻ là một ưu tiên chiến lược quan trọng đối với Úc [84,85].

Ở Canada, việc cung cấp các dịch vụ chăm sóc và giáo dục cho trẻ nhỏ là một điều kiện cần thiết để góp phần phát triển ban đầu và đặt nền móng vững chắc cho việc học tập suốt đời của trẻ. Bậc học này còn được coi là một bước khởi đầu công bằng trong cuộc sống cho tất cả trẻ em và đóng góp cho công bằng xã hội và hội nhập. Giáo dục MN được duy trì bằng các biện pháp có hiệu quả về tài chính, xã hội và sự hỗ trợ của cha mẹ và cộng đồng. Tại Canada, các dịch vụ ECEC (Early Childhood Education and Care- Chăm sóc và giáo dục mầm non) chính là nhà trẻ và chăm sóc trẻ em. Để phát triển, nâng cao chất lượng GDMN, ở quốc gia này đã và đang thực hiện nhiều giải pháp quản lý đa dạng và hiệu quả. Hầu như tất cả các cơ sở chăm sóc trẻ em được quy định theo pháp luật là do tư nhân điều hành, thường là trên một cơ sở phi lợi nhuận của các nhóm phụ huynh, ban giám đốc tự nguyện, hoặc các tổ chức phi lợi nhuận khác (77%) hoặc trên cơ sở lợi nhuận của cá nhân hoặc doanh nghiệp.

Vấn đề CL GDMN cũng rất được quan tâm ở Hàn Quốc theo quan điểm: CS-GD hướng vào trẻ, dành cho trẻ sự chăm sóc và dạy dỗ tốt nhất, đảm bảo cho trẻ có cơ hội vui chơi, hoạt động và giao tiếp một cách tích cực, trẻ được tự do hoạt động, học tập theo sở thích cá nhân. Giáo viên MN Hàn Quốc được linh hoạt lựa chọn mục tiêu, nội dung và cách thức giáo dục phù hợp với trẻ và những điều kiện cụ thể của hoạt động này. Trong trường MN luôn có các góc chơi phong phú để trẻ có thể thực hiện các hoạt động đa dạng theo sở thích của mỗi đứa.

Ở Nhật bản, CL CS-GD trẻ MN được chính phủ hết sức quan tâm. Điều này được thể hiện qua chương trình giáo dục trẻ. Theo đó, giáo viên có vai trò tự chủ rất cao trong nội dung và phương pháp giáo dục trẻ, hoạt động chơi tự do của trẻ là trung tâm. Văn hóa giáo dục trẻ mầm non ở Nhật Bản có sự khác biệt so với các trường mầm non ở nước khác hay các chuẩn mực quốc tế khác: Phụ huynh và các nhà giáo dục Nhật Bản tin tưởng và luôn thống nhất trong việc để cho con trẻ chơi và giao lưu thỏa thích trong môi trường tập thể trước khi chúng bước vào môi trường áp lực của nền giáo dục chuẩn mực [95].

Nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả Mỹ, Canada, Úc… đã tập trung vào vấn đề nâng cao chất lượng CS-GD trẻ MN. Một số công trình nghiên cứu của các tác giả:

Trong cuốn “Xác định giá trị chất lượng trong dịch vụ trẻ em: Phương pháp tiếp cận mới để xác định chất lượng”, Moss và Pence (1999) đưa ra quan điểm về chất lượng, chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ em và các phương pháp tiếp cận mới về chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ [91].

Tác giả Sower Michelle Denise trong công trình nghiên cứu: “Đánh giá hiệu quả của một chương trình nuôi dạy chất lượng áp dụng trên một số trẻ em ở các gia đình bình thường” đã khảo sát thực trạng và xây dựng các tiêu chí đánh giá chất lượng CS-GD trẻ em ở các gia đình bình thường ở Mỹ [93].

Trong kết quả nghiên cứu của mình, tác giả Roxana Adams Dove đã phân tích so sánh đối với kinh nghiệm chăm sóc trẻ tại một chương trình nuôi dạy trẻ chất lượng [84].

Tác giả: Callahan Darragh (Trường Walden University- Mỹ) trong công trình: “Chất lượng trong dịch vụ nuôi dạy trẻ: vấn đề chất lượng chính là chìa khóa

để đánh giá và quyết định lựa chọn trên thực tiễn” đã nhấn mạnh tầm quan trọng của chất lượng CS-GD đối với sự phát triển toàn diện của trẻ [87].

Các tác giả: La Valle Ivana, Smith Ruth trong cuốn sách: “Vấn đề nuôi dạy trẻ chất lượng cao, trong tương lai có nên áp dụng phổ biến?” đã bàn luận về vấn đề CS-GD trẻ, xây dựng trường MN chất lượng cao và vấn đề áp dụng mô hình này trong thực tiễn [90].

Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu về chất lượng CS-GD trẻ, Pamela Morris Cybele Raver Chrishana M. Lloyd Megan Millenky với “Vai trò của GV MN đối với chất lượng CS-GD trẻ” [89]; Alison Elliott với “Giáo dục trẻ mầm non-hướng tới chất lượng và công bằng cho mọi trẻ em” [85]…

1.1.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam

Giáo dục MN từ lâu đã được coi là bậc học của hệ thống giáo dục Việt Nam. Vấn đề chất lượng CS-GD trẻ MN Việt nam đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Sau đây là một số công trình tiêu biểu:

Nguyễn Hữu Châu và nhóm tác giả trong cuốn “Chất lượng giáo dục những vấn đề lý luận và thực tiễn” đã xác định các tiêu chí và chỉ số chất lượng của hệ thống GDMN gồm 3 thành tố, 14 tiêu chí cơ bản và 63 chỉ số [19].

Trong đề tài khoa học cấp Bộ: “Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc nâng cao chất lượng chương trình chăm sóc, giáo dục trẻ 3-6 tuổi trong trường mầm non” tác giả Lê Thu Hương và cộng sự đã xác định các cơ sở khoa học của việc CS-GD trẻ trong trường MN, các yếu tố, các điều kiện ảnh hưởng đến chất lượng CS-GD trẻ [39].

Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả Tạ Ngọc Thanh đã xây dựng bộ công cụ đánh giá chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ ở trường mầm non trọng điểm (khối nhà trẻ và khối mẫu giáo) [59], [60], [61], [62].

Trần Thị Bích Trà và nhóm nghiên cứu trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ ở các trường mẫu giáo ngoài công lập” đã đề xuất được các giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ ở các trường mẫu giáo ngoài công lập. Cũng trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Nghiên cứu đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ từ 0 đến 6 tuổi ở gia đình” đã xây dựng cơ sở lý luận của chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ từ 0 đến 6 tuổi ở gia đình và một số kinh nghiệm quốc tế, đồng thời khảo sát thực trạng và đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục trẻ từ 0 đến 6 tuổi ở gia đình [68;69].

1.2. Những nghiên cứu về quản lý chất lượng CS-GD trẻ mầm non

1.2.1. Những nghiên cứu ở  nước ngoài

Vấn đề quản lý chất lượng CS-GD trẻ MN cũng được các tác giả ngoài nước quan tâm nghiên cứu.

Xakharnikova Larissa Eduardovna trong bài báo “Quản lý chất lượng giáo dục mầm non” đã cho rằng chất lượng giáo dục MN phụ thuộc rất nhiều vào quản lý các yếu tố của quá trình CS-GD trẻ. Theo bà, chất lượng giáo dục- một đối tượng giám sát trong trường mầm non, là tổ hợp bao gồm bốn yếu tố: chất lượng của quá trình giáo dục, chất lượng nguồn lực (nguồn lực và điều kiện cần thiết cho quá trình giáo dục); chất lượng quản lý; chất lượng của các kết quả của hệ thống giáo dục ở trường mầm non [97].

Vấn đề quản lý chất lượng giáo dục MN nói chung, chất lượng CS-GD trẻ nói riêng được các tác giả như: Boguslavet LG, Meyer AA, OA Safonova, Tretyakov PI, S.V.Nikitina, V.I.Slobodchikova [98], [99], [100], [104], [105]…

nghiên cứu.

Trên cơ sở phân tích khái niệm chất lượng giáo dục MN, chỉ số và tiêu chuẩn của chất lượng GDMN, các tác giả S.V.Nikitina, V.I.Slobodchikova trong công trình nghiên cứu “Chất lượng giáo dục mầm non” đã đề xuất các nguyên tắc, phương pháp và một số cách thức quản lý chất lượng giáo dục MN [98], [99].

– Các tác giả E.V. Triphinôva, T.I. Alieva, N.M. Rôdina, N.E. Vaciocova cũng đã dành sự quan tâm đối với vấn đề quản lý chất lượng CS-GD trẻ MN. Các tác giả này cũng cho rằng để nâng cao chất lượng CS-GD trẻ cần phải có sự phối hợp quản lý giám sát giữa chính quyền, trường MN, cộng đồng và phụ huynh [103].

Tác giả Alison Elliott trong cuốn “Giáo dục mầm non hướng tới chất lượng và sự công bằng cho mọi trẻ em” cũng đã phân tích các vấn đề về chất lượng CS-GD trẻ MN và vấn đề quản lý CS-GD trẻ MN [85].

Tác giả Chrishana M. Loyd, Michael Bangser trong công trình “Nâng cao chất lượng giáo dục mầm non thông qua quản lý hiệu quả trong lớp học” đã đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng CS-GD trẻ thông qua việc quản lý có hiệu quả lớp học [86].

Nhìn chung, các nghiên cứu về chất lượng giáo dục mầm non của tác tác giả ngoài nước đã đề cập đến vấn đề QL chất lượng ở các góc độ khác nhau.

1.2.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam

Dưới góc độ quản lý nhà nước, vấn đề nâng cao chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ MN được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm. Nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã được ban hành nhằm nâng cao chất lượng của bậc học này. Những vấn đề cơ bản của bậc học cũng đã được “luật hóa” trong Luật Giáo dục. Để nâng cao chất lượng bậc học, đáp ứng được yêu cầu của việc hiện đại hóa nền giáo dục, nhiều giải pháp quản lý đã được đưa ra, trong đó, Điều 24 Luật giáo dục đã qui định về việc “Xây dựng chương trình chăm sóc giáo dục mầm non mới” [53]. Thực hiện Luật GD, Bộ Giáo dục- Đào tạo đã tích cực soạn thảo chương trình chăm sóc – giáo dục MN mới. Chương trình đã được triển khai thí điểm trong hai năm 2005- 2006 và bắt đầu thực hiện đại trà trong năm 2007. Bộ GD&ĐT cùng với vụ GDMN cũng đã đưa ra một số giải pháp quản lý để thực hiện tốt chương trình này. Tuy nhiên, những giải pháp này chỉ mới có tính định hướng và chủ yếu dành cho các trường MN công lập [10,15]

Từ 1994 đến nay đã hình thành một hệ thống cơ sở GDMN ngoài công lập với số lượng trẻ ngày càng tăng, số trường lớp được mở rộng một cách nhanh chóng. Cùng với số lượng, chất lượng của các trường tư thục cũng dần dần được nâng cao, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của xã hội về bậc học này. Để quản lý có hiệu quả các cơ sở GDMN tư thục, Bộ Giáo dục- Đào tạo đã ban hành Qui chế “Tổ chức và hoạt động trường Mầm non tư thục” kèm theo Quyết định số 41/2008/QĐ/ BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2008. Tại Điều 3 của Quy chế đã nêu rõ “nhiệm vụ, quyền hạn của nhà trường, nhà trẻ nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập, tư thục”; qui định việc tổ chức thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 06 tuổi theo chương trình giáo dục mầm non do Bộ Giáo dục đào tạo ban hành…; tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quy hoạch kế hoạch phát triển, tổ chức các hoạt động giáo dục, xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên, huy động, sử dụng và quản lý các nguồn lực để thực hiện mục tiêu giáo dục mầm non, góp phần cùng nhà nước chăm lo sự nghiệp giáo dục, đáp ứng yêu cầu xã hội [11]. Thông tư 13/ 2015/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục- Đào tạo ban hành ngày 30/6/2015 đã bổ sung, điều chỉnh một số điều trong Quyết định số 41/2008/QĐ/ BGDĐT nhằm tiếp tục nâng cao chất lượng CS-GD trẻ ở các trường MNTT [15].

Nhằm giúp các cơ quan quản lý nhà nước có những giải pháp nâng cao chất lượng bậc học MN, ngày 25/3/2011, Hội thảo “Phát triển chăm sóc và giáo dục Mầm non Việt Nam: Vấn đề và giải pháp” do Bộ GD&ĐT phối hợp với Ngân hàng thế giới đã được tổ chức tại Hà Nội đã thu hút sự tham gia của đông đảo các nhà giáo dục, các nhà quản lý GDMN.

Dưới góc độ khoa học quản lý, vấn đề quản lý chất lượng GDMN cũng đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của một số tác giả dưới nhiều góc độ khác nhau như Nguyễn Hữu Châu, Phan Văn Kha, Nguyễn Thị Hoài An, Tạ Thị Ngọc Thanh, Nguyễn Thị Thanh Tâm, Trần Thị Bích Trà, Đinh Văn Vang [1]; [19]; [57]; [59]; [60]; [61]; [62]; [68]; [69]; [78]. Tác giả Phan Văn Kha trong công trình nghiên cứu của mình đã đề xuất các giải pháp vĩ mô và vi mô trong quản lý các cơ sở GDMN ngoài công lập. Các giải pháp vĩ mô như: Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về GDMN và cơ sở GDMN ngoài công lập; xây dựng và tổ chức thực hiện các quy chế trong hoạt động QL cơ sở GDMN ngoài công lập; thực hiện tốt việc phân cấp QL các cơ sở GDMN ngoài công lập; chỉ đạo triển khai thực hiện đúng theo các văn bản của nhà nước về QL cơ sở GDMN ngoài công lập; đổi mới công tác giám sát cơ sở GDMN ngoài công lập sau đăng ký thành lập theo hướng phát huy vai trò của xã hội và của các chủ thể khác nhằm hỗ trợ Nhà nước trong QL, giám sát cơ sở GDMN ngoài công lập; đổi mới công tác QL các cơ sở GDMN ngoài công lập của các cấp. Các giải pháp vi mô (QL của cơ sở GDMN ngoài công lập) gồm: tổ chức thực hiện đúng các văn bản của nhà nước về QL cơ sở GDMN ngoài công lập; xây dựng và tổ chức thực hiện các quy chế trong hoạt động QL cơ sở GDMN ngoài công lập; đổi mới công tác QL các cơ sở GDMN ngoài công lập của Hiệu trưởng; tăng cường vai trò giám sát cơ sở GDMN ngoài công lập của mọi lực lượng có liên quan; đẩy mạnh công tác xã hội hoá GDMN để nâng cao chất lượng CS-GD trẻ ở cơ sở GDMN ngoài công lập [44].

Nguyễn Hữu Châu và nhóm tác giả đề xuất các thành tố và các tiêu chí cơ bản và cụ thể về chất lượng giáo dục MN, trong đó có các thành tố, các tiêu chí cơ bản và cụ thể về quản lý chất lượng [19].

1.3. Nhận xét chung

Qua tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, chúng tôi nhận thấy QL chất lượng CS-GD trẻ MN là vấn đề được các tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Những vấn đề mà các tác giả quan tâm nghiên cứu là:

Quan niệm về chất lượng CS-GD trẻ

Các thành tố, các chỉ số và tiêu chí đánh giá chất lượng CS-GD trẻ

Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng CS-GD trẻ

Các điều kiện đảm bảo chất lượng CS-GD trẻ

Các biện pháp nâng cao chất lượng CS-GD trẻ

Các nguyên tắc quản lý, phương pháp tiếp cận và một số cách thức quản lý chất lượng giáo dục MN 

– Một số mô hình, giải pháp QL cơ sở GDMN ngoài công lập.

Tuy nhiên, vẫn còn những vấn đề chưa được quan tâm nghiên cứu như:

Các giải pháp quản lý đã đề xuất và thực thi chủ yếu mới ở mức độ chung cho toàn bậc học và dành cho các cơ sở giáo dục mầm non công lập. Chưa có đề tài nào đề cập đến các giải pháp quản lý chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ ở các trường MNTT tương xứng với vai trò của loại hình giáo dục này trong hệ thống các cơ sở giáo dục MN. Đặc biệt, chưa có công trình nghiên cứu nào được công bố về các giải pháp quản lý chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ ở các trường MNTT ở thành phố Hồ Chí Minh.

Từ kết quả nghiên cứu tổng quan, luận án tập trung giải quyết các vấn đề cơ bản sau đây:

Nghiên cứu giải quyết những vấn đề lý luận về QL chất lượng CS-GD trẻ ở các trường MNTT, đặc biệt là làm rõ đặc trưng, các nội dung QL chất lượng CS-GD trẻ, các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng và QL chất lượng CS-GD trẻ ở các trường MNTT.

Làm rõ cơ sở thực tiễn và nghiên cứu, đề xuất các giải pháp QL chất lượng CS-GD trẻ ở các trường MNTT tại thành phố Hồ Chí Minh.

2. Các khái niệm cơ bản của đề tài

2.1. Chất lượng, chất lượng giáo dục mầm non và chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ mầm non

2.1.1. Chất lượng

Xung quanh khái niệm CL có nhiều cách hiểu khác nhau:

Dưới góc độ triết học, chất lượng là phạm trù biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật, phân biệt nó đối với sự vật khác. Chất lượng là thuộc tính khách quan của sự vật. Chất lượng thể hiện ra bên ngoài qua các thuộc tính. Nó là các liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó với sự vật và không tách rời sự vật. Sự vật trong khi còn là bản thân nó thì không thể mất chất lượng của nó. Sự thay đổi về chất lượng kéo theo sự thay đổi của sự vật về căn bản. Chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn liền với tính quy định về số lượng của nó và không thể tồn tại ngoài tính quy định ấy. Mỗi sự vật bao giờ cũng là sự thống nhất của chất lượng và số lượng.

Theo Oxford Pocket Dictionary [92], CL là “mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số cơ bản”.

Theo từ điển Tiếng Việt “Chất lượng là cái làm nên phẩm chất giá trị con người, sự vật” [53].

Theo tiêu chuẩn Pháp – NF X 50-109, CL là “tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu người sử dụng” [66].

Theo tiêu chuẩn Việt Nam ISO 8402, “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) đó có khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu ra, hoặc nhu cầu tiềm ẩn” [65].

Theo tác giả Nguyễn Hữu Châu, “CL là sự phù hợp với mục tiêu” [19; tr.6]. Đây là quan điểm thích hợp và thông dụng nhất khi xem xét các vấn đề của giáo dục.

Từ góc độ QL, luận án thống nhất với quan niệm của tác giả Bùi Minh Hiền: “Chất lượng là sự thực hiện được mục tiêu và thoả mãn được nhu cầu của khách hàng” [32, tr 257]. Đối với lĩnh vực giáo dục, “khách hàng” ở đây chính là người học, là phụ huynh học sinh và cộng đồng xã hội, trong đó người học giữ vai trò trung tâm trong mọi hoạt động của nhà trường, chất lượng GD tập trung nhất ở sự phát triển toàn diện nhân cách của người học.

Từ sự nghiên cứu quan niệm của các tác giả về chất lượng, tác giả luận án quan niệm: Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu, thoả mãn được nhu cầu của khách hàng và đáp ứng được các tiêu chuẩn quy định.

2.1.2. Chất lượng giáo dục mầm non 

i) Chất lượng giáo dục

Theo Từ điển Giáo dục học, CLGD là “tổng hòa những phẩm chất và năng lực được tạo nên trong quá trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cho người học so với thang chuẩn giá trị của nhà nước hoặc xã hội. CLGD có tính lịch sử cụ thể và luôn luôn tùy thuộc vào các điều kiện xã hội đương thời, trong đó có các thiết chế, chính sách và lực lượng tham gia giáo dục [70].

Từ định nghĩa “CL là sự phù hợp với mục tiêu” và “Chất lượng là sự thực hiện được mục tiêu và thoả mãn được nhu cầu của khách hàng” đã phân tích ở trên, có thể xem CLGD là sự phù hợp với mục tiêu giáo dục, và thoả mãn được nhu cầu của người học, của phụ huynh và xã hội. Mục tiêu giáo dục chính là những yêu cầu của xã hội đối với con người mà các nhà trường cần phải đáp ứng.

CLGD thường được xác định và đánh giá bởi những tiêu chí trong các lĩnh vực như: cơ hội tiếp cận, sự nhập học, tỉ lệ tham dự học tập, tỉ lệ lưu ban, bỏ học; mức độ thông thạo trong việc đọc, viết và tính toán; kết quả các bài kiểm tra; tỉ lệ đầu tư cho giáo dục trong ngân sách nhà nước…

Liên quan đến khái niệm CLGD, có các khái niệm Chất lượng của hệ thống giáo dục (mô hình C.I.M.O); Chất lượng của cơ sở giáo dục (mô hình C.I.P.O).

CL của hệ thống GD là tổ hợp chất lượng của các bộ phận hợp thành hệ thống GD, bao gồm chất lượng GDMN, chất lượng GDPT, chất lượng giáo dục ngoại ngữ, chất lượng GDĐH và chất lượng GDTX. Còn nếu xem chất lượng giáo dục là sự phù hợp với mục tiêu giáo dục thì có thể nói: Chất lượng của một hệ thống GD là sự phù hợp với mục tiêu đã đề ra của sản phẩm hệ thống GD.

CL của hệ thống GD là chất lượng của những yếu tố tạo nên hệ thống: CL đầu vào (I); CL quá trình quản lý (M); CL đầu ra (O). CL của các thành phần này cần được xem xét trên nền một hoàn cảnh cụ thể (C). Đây là quan điểm CIMO xem xét CL của một hệ thống GD.

Chất lượng của cơ sở giáo dục là CL của các trường mầm non, trường tiểu học, trường THCS, trường THPT, trường phổ thông có nhiều cấp học, trung tâm kỹ thuật hướng nghiệp; trường TCCN, trường CĐ nghề, trường TC nghề, trung tâm dạy nghề, lớp dạy nghề, trường CĐ, trường ĐH. Đó là mức độ phù hợp giữa sản phẩm với mục tiêu cụ thể đã đề ra của mỗi cơ sở GD. Trong đó, mục tiêu giáo dục là yếu tố dự kiến của quá trình giáo dục, đó chính là mô hình nhân cách mà nhà trường cần hình thành theo yêu cầu của xã hội [68], [74], [76], [77], [78], [79], [80].

Theo Bùi Minh Hiền [32, tr259], chất lượng giáo dục được xác định theo:

Chất lượng của môi trường học tập và đầu vào:

Chương trình, nội dung

Giáo viên

Cơ sở vật chất

Tài chính

Quản lý

* Chất lượng của quá trình học tập:

Phương pháp dạy

Phương pháp học

Thời lượng

* Chất lượng của kết quả học tập:

Sự tiếp thu kiến thức

Giá trị

Thái độ

Kỹ năng

Từ các quan niệm trên về chất lượng giáo dục, cho phép rút ra kết luận: CLGD là sự đáp ứng mục tiêu giáo dục của bậc học và thoả mãn nhu cầu của người học và cộng đồng theo từng giai đoạn phát triển của xã hội nhất định.

Chất lượng GDMN

Chất lượng giáo dục mầm non là vấn đề được quan tâm của các nhà nghiên cứu về GDMN trên thế giới. Đây là phạm trù rất khó định nghĩa và đo lường. Cho đến nay, chưa có khái niệm nhất quán về chất lượng giáo dục mầm non.

Theo S.V.Nikitina, chất lượng giáo dục mầm non là sự phù hợp với mục tiêu, sự mong đợi của người tiêu dùng các dịch vụ giáo dục (phụ huynh) liên quan đến quá trình giáo dục, điều kiện và kết quả của nó, cũng như các hoạt động của hệ thống giáo dục mầm non nói chung [99].

Xakharnikova Larissa Eduardovna cho rằng: chất lượng giáo dục mầm non là một tập hợp các thuộc tính và các kết quả của việc giáo dục trẻ em trong độ tuổi mầm non phù hợp với mục tiêu trên cơ sở các yêu cầu, nhu cầu và sự mong đợi của giáo viên, phụ huynh, trẻ em [97].

Theo V.I.Slobodchikova, chất lượng giáo dục mầm non chính là chất lượng cuộc sống của trẻ. Chất lượng giáo dục mầm non được thể hiện trong việc đảm bảo mức độ dịch vụ giáo dục, đáp ứng sự mong đợi và nhu cầu của phụ huynh và các quy định của chính phủ. Cũng theo tác giả, chất lượng giáo dục mầm non là tập hợp các yếu tố như: chất lượng của quá trình giáo dục (mà các thành phần là các nội dung chương trình, tổ chức quá trình CS-GD, trẻ em, giáo viên…); chất lượng nguồn lực (nguồn lực và điều kiện cần thiết cho quá trình giáo dục); chất lượng quản lý; chất lượng của các kết quả của hệ thống giáo dục mầm non [98].

Từ các quan niệm về chất lượng và chất lượng giáo dục, chất lượng GDMN đã phân tích ở trên, có thể hiểu CL GDMN là sự phù hợp với mục tiêu giáo dục MN, hướng tới sự phát triển toàn diện của trẻ và thoả mãn được nhu cầu của trẻ, của phụ huynh và xã hội.

2.2.3. Chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ MN

Chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ là những giá trị phát triển của trẻ được tạo bằng các hoạt động CS-GD trẻ của trường MN. Thông qua hai hoạt động này, trẻ được đảm bảo an toàn và phát triển tốt về thể chất và phát triển tinh thần. Nhờ đó, trẻ dần dần hình thành được hệ thống những phẩm chất và năng lực mà thời đại yêu cầu. Cụ thể:

Chăm sóc: Là một trong hai hoạt động cơ bản của bậc học MN, là hoạt động đặc thù của giáo dục MN so với các bậc học khác. Hoạt động chăm sóc bao gồm rất nhiều những hành động khác nhau với những kết quả cụ thể khác nhau nhưng cùng thực hiện mục tiêu chung: đảm bảo cho trẻ an toàn và phát triển bình thường về mặt thể chất và tâm lý. Hoạt động chăm sóc trẻ thường được gọi là nuôi, bao gồm: giữ cho trẻ an toàn, cho trẻ ăn, uống, làm vệ sinh, giúp trẻ sống hợp vệ sinh….

Giáo dục: Cũng như các cấp, bậc học trong hệ thống giáo dục, hoạt động giáo dục là hoạt động cơ bản của trường MN, là một bộ phận của quá trình sư phạm (quá trình giáo dục) là quá trình hình thành niềm tin, lý tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ, những nét tính cách, những hành vi và thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thuộc các lĩnh vực tư tưởng, chính trị, đạo đức, lao động, học tập, thẩm mỹ và vệ sinh…

Chăm sóc – giáo dục: Luận án sử dụng thuật ngữ chăm sóc – giáo dục trẻ . Tác giả luận án muốn nhấn mạnh đối với trẻ mầm non, việc chăm sóc và giáo dục là hai hoạt động cơ bản đều quan trọng như nhau nhằm phát triển thể chất và tâm lý của trẻ, chuẩn bị tốt cho việc trẻ có thể học tập tốt ở các bậc học sau này.

Một cách tổng quát, mục tiêu của trường MN là CS-GD trẻ em ở lứa tuổi MN để tạo ra những cơ sở tốt đẹp ban đầu cho sự phát triển thể chất và tâm lý của cả cuộc đời của trẻ nói chung và chuẩn bị tốt cho việc trẻ có thể học tập tốt ở các bậc học sau này nói riêng. Từ đó, một trường MN có CL cao chính là nơi CS-GD được những trẻ em khỏe mạnh về thể chất, có sự phát triển ban đầu về nhận thức, cảm xúc và hành động là nền tảng cho một sự phát triển toàn diện sau này. CL phát triển thể chất và tâm lý của trẻ được xem là CL trung tâm của quá trình giáo dục MN.

Cùng với CL người học, CL CS-GD trẻ của các trường MN còn bao gồm: CL của chương trình CS-GD trẻ; CL của hoạt động CS-GD trẻ; CL của ĐNGV và đội ngũ QL; CL nghiên cứu, ứng dụng KHGD và hợp tác quốc tế; CL tổ chức, quản lý nhà trường; CL của cơ sở vật chất và và trang thiết bị hỗ trợ; nguồn tài chính; khả năng đáp ứng yêu cầu của phụ huynh và của các trường tiểu học…

Tóm lại, CL CS-GD trẻ của trường MN là sự phù hợp với mục tiêu của giáo dục mầm non, đáp ứng các yêu cầu về sự phát triển toàn diện của trẻ, nhu cầu phụ huynh và xã hội, đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn CL.

2.2. Quản lý chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ ở trường mầm non

2.2.1. Quản lý chất lượng trong giáo dục

i) Quản lý chất lượng

Quản lý chất lượng là tất cả mọi hoạt động trong chức năng quản lý tổng quát nhằm xác định các mục tiêu của chính sách và trách nhiệm liên quan đến chất lượng; đồng thời triển khai những chính sách và trách nhiệm này bằng các phương tiện như kế hoạch chất lượng, các quy trình chất lượng, kiểm soát chất lượng, đánh giá chất lượng và cải thiện chất lượng. Tất cả những hoạt động này đều nằm trong một hệ thống chất lượng.

Tiêu chuẩn Việt Nam về chất lượng “TCVN-5814-94” đã xác định: “Quản lý chất lượng là tập hợp những hoạt động của chức năng quản lý chung, xác định chính sách chất lượng, mục đích, trách nhiệm và thực hiện chúng thông qua các biện pháp như lập kế hoạch chất lượng, điều khiển và kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ hệ thống chất lượng” [67]. Theo đó, khái niệm quản lý chất lượng được xem xét ở những tiêu chí sau:

– Thứ nhất, quản lý chất lượng bao gồm hệ thống các biện pháp, phương pháp nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm, thỏa mãn nhu cầu khách hàng với hiệu quả kinh tế- xã hội cao nhất.

– Thứ hai, quản lý chất lượng được tiến hành ở tất cả quá trình hình thành chất lượng sản phẩm theo chu kỳ sống: nghiên cứu, thiết kế- sản xuất- tiêu dùng và bảo quản.

– Thứ ba, quản lý chất lượng là trách nhiệm của tất cả các cấp từ người lãnh đạo tới mọi thành viên trong tổ chức.

Quản lý chất lượng có 3 chức năng chính: Chức năng hoạch định chất lượng, chức năng điều khiển chất lượng và chức năng kiểm định đánh giá chất lượng.

ii) Quản lý chất lượng trong giáo dục

Quản lý chất lượng nói chung và QL chất lượng trong GD có thể xem xét ở nhiều góc độ khác nhau. Theo tác giả Nguyễn Tiến Hùng “QLCL trong GD được xem là hệ thống bao gồm các cơ chế và các quy trình, được sử dụng để đảm bảo chất lượng thông qua liên tục cải tiến chất lượng hoạt động của hệ thống GD hay cơ sở GD hoặc lớp học” [35, tr 26].

Mục tiêu của QLCL trong GD là nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc cải tiến liên tục và phát triển của các hoạt động hay quá trình và kết quả giáo dục.

Bản chất QLCL trong GD chính là việc thiết lập và vận hành hệ thống đảm bảo chất lượng trong GD thông qua cải tiến liên tục dựa trên các giá trị nhằm đạt tới các mục tiêu và vì vậy đạt tới sứ mạng, tầm nhìn, giá trị của hệ thống giáo dục hay cơ sở GD.

2.2.2. Quản lý chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ ở trường mầm non

Từ khái niệm quản lý chất lượng nói chung và QLCL nói riêng có thể hiểu QL CL CS-GD trẻ ở trường MN là hệ thống bao gồm các cơ chế và các quy trình, được sử dụng để đảm bảo chất lượng thông qua liên tục cải tiến chất lượng hoạt động của nhà trường. Vấn đề này bao hàm cả đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng CS-GD trẻ.

Thực chất của QLCL CS-GD trẻ ở trường MN là việc thiết lập và vận hành hệ thống đảm bảo chất lượng trong nhà trường thông qua cải tiến liên tục dựa trên các giá trị nhằm đạt tới các mục tiêu đã xác lập.

QLCL CS-GD trẻ là quản lý toàn bộ hệ thống các thành tố tác động đến quá trình CS-GD trẻ ở trường MN, bao gồm: chất lượng chương trình CS-GD trẻ; chất lượng đội ngũ GV, nhân viên trong nhà trường MN; chất lượng CSVC, trang thiết bị trong trường MN; chất lượng công tác quản lý trường MN; chất lượng công tác xã hội hóa GDMN; chất lượng đầu ra của trường MN; chất lượng trẻ so với mục tiêu giáo dục.

Theo đó, quản lý chất lượng CS-GD trẻ được xem xét ở những tiêu chí sau:

– Thứ nhất, quản lý chất lượng CS-GD trẻ bao gồm hệ thống các biện pháp, phương pháp nhằm đảm bảo chất lượng CS-GD trẻ, thỏa mãn nhu cầu của phụ huynh nói riêng và xã hội nói chung với hiệu quả kinh tế- xã hội cao nhất.

Thứ hai, quản lý chất lượng CS-GD trẻ được tiến hành ở tất cả các khâu của quá trình hoạt động này từ khi nghiên cứu nhu cầu của phụ huynh cho đến các khâu tiếp theo như thiết kế quá trình CS-GD đáp ứng nhu cầu của phụ huynh, tiếp nhận trẻ vào trường, thực hiện quá trình CS-GD trẻ và tổ chức cho trẻ ra trường.

Thứ ba, quản lý chất lượng CS-GD trẻ là trách nhiệm của tất cả các bộ phận và cá nhân trong trường MN từ Hiệu trưởng, người quản lý các cấp đến mọi GV và nhân viên của trường.

Quản lý chất lượng CS-GD trẻ MN có 3 chức năng chính: Chức năng hoạch định chất lượng CS-GD của nhà trường, chức năng điều khiển chất lượng CS-GD trẻ và chức năng kiểm định đánh giá chất lượng CS-GD trẻ.

2.3. Giải pháp quản lý chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ ở trường MN

2.3.1. Giải pháp

Thuật ngữ giải pháp được hiểu tương đối thống nhất ở nội dung chung. Tuy nhiên, nếu giải thích một cách tương đối cụ thể thì có sự khác nhau. Theo Đại từ điển tiếng Việt, “giải pháp được xem là phương pháp giải quyết một công việc, một vấn đề cụ thể” [83].

Gần với khái niệm giải pháp còn có các khái niệm phương pháp, biện pháp. Vì thế, cần phân biệt một cách tường minh nó với các khái niệm tương tự này. Điểm giống nhau của các khái niệm trên là đều nói về cách làm, cách tiến hành, cách giải quyết một công việc, một vấn đề. Còn điểm khác nhau ở chỗ, phương pháp cũng là cách thức giải quyết vấn đề nhưng nó có tính khái quát cho một lớp các tình huống có cùng bản chất, không gắn với chủ thể và tình huống cụ thể; còn biện pháp chủ yếu nhấn mạnh đến cách làm, cách hành động cụ thể là một mặt – mặt cách thức của giải pháp, đó là sự vận dụng phương pháp vào một tình huống cụ thể. Trong khi đó, nói đến giải pháp là nói đến cách giải quyết một tình huống cụ thể do một chủ thể thực hiện. Vì vậy, khi xem xét một giải pháp phải xem xét đồng thời cả ba mặt: Đặc điểm chung và cụ thể của tình huống, phương pháp chung và chủ thể thực hiện.

Như vậy, khái niệm giải pháp, tuy có những điểm chung với các khái niệm phương pháp, biện pháp nhưng nó cũng có điểm khác biệt quan trọng. Đó là nhấn mạnh đến phương pháp giải quyết một vấn đề, do những chủ thể nhất định thực hiện bằng những biện pháp khắc phục khó khăn nhất định.

2.3.2. Giải pháp quản lý chất lượng CS-GD của trường MN

Giải pháp QLCL CS-GD trẻ là hệ thống các cách thức mà các trường MN sử dụng để duy trì, cải thiện và nâng cao CL CS-GD trẻ trong những điều kiện cụ thể của nhà trường.

Từ đó, đề xuất giải pháp QLCL CS-GD trẻ thực chất là dựa trên cơ sở các phương pháp chung của khoa học quản lý nhà trường, quản lý chất lượng và những tình huống, điều kiện cụ thể của nhà trường, Hiệu trưởng đưa ra các cách thức QLCL CS-GD trẻ, đáp ứng yêu cầu nâng cao CL CS-GD trẻ của các trường MN.

3. Vấn đề chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ ở trường mầm non

3.1. Đặc trưng chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ ở trường mầm non

Sứ mạng cao cả của các trường MN là CS-GD trẻ em từ 3 tháng đến 5-6 tuổi nhằm đảm bảo cho trẻ có sự phát triển toàn diện, hài hòa về thể chất và tinh thần, hình thành những cơ sở đầu tiên của con người phát triển toàn diện; tạo cơ sở, nền tảng cho quá trình giáo dục, đào tạo ở tiểu học và các cấp, bậc học tiếp sau. CL CS-GD trẻ của của các trường MN được phản ánh một cách đầy đủ nhất qua CL đội ngũ học sinh, sinh viên và người công dân, người lao động sau này.

Khác với một sản phẩm hay một dịch vụ của quá trình lao động- sản xuất thông thường mà CL của nó có thể xác định một cách tương đối thuận lợi bằng các tiêu chí và chỉ số của sản phẩm hay dịch vụ. Sản phẩm CS-GD trẻ của các trường MN là những đứa trẻ với thể chất và tâm lý đang phát triển một cách cách sống động. Bởi vậy, CL CS-GD trẻ của các trường MN rất khó đánh giá một cách chính xác. Mặt khác, những yêu cầu của xã hội và của các cấp/bậc học sau đó đối với sản phẩm giáo dục MN (CL CS-GD trẻ) thường xuyên thay đổi để đáp ứng sự phát triển của đối tượng giáo dục; sự chuyển đổi về năng lực của người học phổ thông, học nghề và lao động trong xã hội hiện đại; xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế…

Vì vậy, các trường MN không chỉ quan tâm đến chất lượng hiện tại và bó hẹp với những tiêu chí có thể đo đạc được ở trẻ em mà còn phải quan tâm đến cả chất lượng toàn diện và những tiềm năng của trẻ. Điều đó có nghĩa là, các trường MN phải chuẩn bị để sản phẩm giáo dục của mình có khả năng phát triển toàn diện và phải có được tiềm năng học tập và lao động trong cả cuộc đời.

3.2. Các thành tố cơ bản của chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ mầm non

CL CS-GD trẻ của các trường MN được tạo nên bởi nhiều thành tố. Sau đây là một số thành tố cơ bản:

3.2.1. Chương trình CS-GD

Chương trình CS-GD trẻ là sự thể hiện của mục tiêu đào tạo trong hoạt động của nhà trường; quy định chuẩn về phát triển thể chất và tâm lý, phạm vi và cấu trúc nội dung CS-GD, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động CS-GD, cách thức đánh giá kết quả CS-GD đối với mỗi hoạt động qua từng lứa tuổi. Xét về mặt quy mô, chương trình CS-GD trẻ có thể được xây dựng theo các cấp khác nhau như chương trình ở quy mô cấp quốc gia, chương trình CS-GD cụ thể của một trường hoặc ở mức hẹp hơn nữa là chương trình CS-GD của một lứa tuổi, một hoạt động cụ thể.

Chương trình CS-GD trẻ của các trường MN trước đây thường được xây dựng theo hướng tiếp cận nội dung, nghĩa là chương trình đưa ra một danh mục các hoạt động chủ yếu hình thành hiểu biết cho trẻ hoặc từng lĩnh vực phát triển riêng biệt. Hiện nay, để đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, đáp ứng nhu cầu phát triển toàn diện trẻ em ngày càng cao của các bậc phụ huynh, chương trình CS-GD trẻ của các trường MN đang được dần chuyển sang xây dựng theo tiếp cận năng lực. Theo đó, cần xác định hệ thống các cơ sở của những năng lực chung và năng lực riêng mà mỗi trẻ cần phải đạt được lúc 5-6 tuổi, nếu muốn trở thành học sinh và người lao động tốt trong tương lai. Trên cơ sở đó mới lựa chọn các lĩnh vực thể chất, nhận thức, cảm xúc… bắt buộc, tự chọn có vai trò cụ thể trong việc hình thành và phát triển các năng lực chung và năng lực riêng cho trẻ ở các giai đoạn phát triển sau trong tương lai.

Chương trình CS-GD trẻ của các trường MN cần coi trọng việc phát triển thể chất, trang bị các hiểu biết ban đầu về thế giới và bản thân, về giáo dục hòa nhập, các kĩ năng xã hội; định hướng cho sự hình thành nhân cách, đạo đức, lối sống và năng lực học tập cho trẻ sau này.

3.2.2. Hoạt động CS-GD trẻ

Hoạt động CS-GD trẻ là hoạt động trung tâm, cốt lõi trường MN. Trong xu thế đổi mới GDMN hiện nay, hoạt động CS-GD trẻ trong các trường MN nói chung, các trường MNTT nói riêng, cần đáp ứng các yêu cầu sau đây:

Mục tiêu CS-GD là đảm bảo cho trẻ an toàn tuyệt đối, phát triển tối ưu về thể chất và tâm lý làm cơ sở cho toàn bộ quá trình phát triển sau này đặc biệt là giúp trẻ thích nghi nhanh chóng với hoạt động học tập ở lớp 1.

Nội dung CS-GD:

Tổ chức cho trẻ ăn, uống vệ sinh và vận động thân thể một cách khoa học, hợp lý để đảm bảo sự phát triển thể chất bình thường và giúp trẻ có kỹ năng tốt trong ăn uống, giữ gìn sức khỏe.

Nhận thức về thế giới xung quanh và về bản thân, ngôn ngữ nói phù hợp với độ tuổi, nhận thức về biểu tượng về chữ và số ở 5 tuổi.

Hình thành cảm xúc, hành vi và thị hiếu thẩm mỹ phù hợp với độ tuổi.

Phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội phù hợp với độ tuổi.

Hình thành ý thức về vệ sinh, môi trường và an toàn giao thông

Phương pháp CS-GD quán triệt quan điểm: tích cực hoá quá trình phát triển của trẻ bằng việc tổ chức CS-GD trẻ thông qua hoạt động chủ đạo của lứa tuổi này là hoạt động vui chơi theo nguyên tắc: chơi mà học.

Từ đó, phương pháp CS-GD trẻ cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa chơi và học, giữa “tổ chức chơi để học” và “học trong chơi” của trẻ; gắn quá trình CS-GD ở các trường MN với thực tế sinh động của cuộc sống; xây dựng quy trình hoạt động vui chơi cho trẻ ở các lứa tuổi; tạo môi trường thuận lợi để trẻ hình thành các kĩ năng sống tối thiểu và phát triển các tư chất riêng của mình…

Hình thức CS-GD phải chuyển từ gò bó trẻ theo kiểu lớp học sang các hình thức hoạt động đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, trải nghiệm, khám phá môi trường xung quanh và cuộc sống”.

Kết quả CS-GD trẻ của phải được đánh giá một cách khách quan, theo hướng chú trọng năng lực khám phá; cảm thụ thẩm mĩ, kỹ năng sống, kĩ năng xã hội, khả năng thích nghi với các môi trường sống mới và hoạt động học tập…

3.2.3. Đội ngũ quản lý và giáo viên, nhân viên

Đội ngũ quản lý và GV, nhân viên là lực lượng quyết định CL CS-GD trẻ của các trường MN. Để đảm bảo và không ngừng nâng cao CL CS-GD trẻ, đội ngũ này của trường phải đáp ứng các yêu cầu nhất định.

Đối với ĐNGV

Nghề dạy học MN là một trong số những nghề có đòi hỏi cao đối với người lao động, xuất phát từ đặc trưng của loại hình lao động này. Người GV và bảo mẫu tác động đến trẻ MN không chỉ bằng tri thức, kỹ năng mà trước hết bằng tình cảm, thái độ chân thành và cao hơn cả là bằng toàn bộ nhân cách. Khác với giáo viên phổ thông thực hiện chủ yếu vai trò người thầy, GV MN đến với trẻ trước hết là với tư cách người mẹ thứ hai. Vì thế, giáo viên MN phải là một công dân gương mẫu, có ý thức trách nhiệm xã hội, hăng hái tham gia vào sự phát triển cộng đồng; có lòng yêu trẻ và có khả năng tương tác với trẻ MN.

100% GV các trường MN phải có trình độ từ trung học sư phạm MN trở lên, trong đó số GV vượt chuẩn càng nhiều thì càng tốt.

Đủ số lượng, cơ cấu;

Có khả năng thiết kế và tổ chức các hoạt động cho trẻ một cách sáng tạo trên cơ sở chương trình.

Có khả năng thích ứng cao đối với sự đổi mới của GDMN nhất là về chương trình, PP CS-GD trẻ, đánh giá kết quả CS-GD…

Đối với đội ngũ quản lý

Vững vàng về chuyên môn và nghiệp vụ CS-GD trẻ MN

Có tầm nhìn chiến lược, năng lực sáng tạo và tính chuyên nghiệp;

Được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý cơ sở GDMN;

Có điều kiện cống hiến sức lực, trí tuệ của mình cho sự phát triển các trường MN và ngành GD…

– Đối với đội ngũ nhân viên:

Có các bằng cấp hoặc chứng chỉ nghề cần thiết phù hợp với nhiệm vụ chuyên môn và nghiệp vụ.

Có tác phong sư phạm, ân cần trong đối xử với trẻ và với phụ huynh.

3.2.4. Trẻ mầm non

Trẻ MN là các trẻ em từ 3 tháng đến 5 tuổi học ở các trường MN, được CS-GD để phát triển tốt về thể chất và tâm lý để tạo cơ sở ban đầu cho sự phát triển ở các giai đoạn tiếp theo. Đặc biệt là tạo được tiền đề tốt cho việc thích nghi và thực hiện các hoạt động học ở trường phổ thông. Từ đó, việc chăm sóc giáo dục trẻ 5 tuổi

Ở các trường MN phải hình thành được những cơ sở của phẩm chất và năng lực phù hợp với yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội trên cơ sở những tư chất và năng khiếu của bản thân trẻ. Các tư chất và năng khiếu này cần được phát hiện và rèn luyện, phát triển qua hoạt động tích cực của trẻ trong quá trình tổ chức CS-GD của nhà trường.

3.2.5. Nghiên cứu ứng dụng khoa học giáo dục mầm non và hợp tác quốc tế

Hoạt động khoa học công nghệ không phải là hoạt động chính của trường MN. Tuy nhiên, nó có vai trò hỗ trợ to lớn cho hoạt động CS-GD trẻ của nhà trường. Nghiên cứu khoa học ở trường MN chủ yếu là nghiên cứu ứng dụng, vận dụng những nghiên cứu về khoa học quản lý, về sư phạm MN vào thực tiễn hoạt động CS-GD của nhà trường. Đó là những sáng kiến- kinh nghiệm nhằm giải quyết những tình huống nảy sinh trong hoạt động CS-GD trẻ của trường, của từng lứa tuổi, thậm chí từng đối tượng học sinh trong những điều kiện cụ thể của nhà trường. Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng KHGD MN phục vụ cho việc nâng cao hiệu quả của hoạt động CS-GD trẻ. Để hoạt động này đạt hiệu quả, cần phải xây dựng được kế hoạch nghiên cứu ứng dụng, triển khai kế hoạch một cách hiệu quả trên cơ sở đòi hỏi của thực tiễn- cụ thể của nhà trường, phục vụ cho công tác CS-GD trẻ, sự đổi mới của giáo dục tiểu học và nhu cầu của xã hội.

Trong thời đại toàn cầu hóa, hoạt động CS-GD trẻ của trường MN không thể chỉ thỏa mãn với chất lượng được qui định ở trong nước mà còn phải tiến tới hội nhập khu vực và quốc tế. Một trong những nội dung của hội nhập là xây dựng các quan hệ hợp tác quốc tế. Quan hệ này được thực hiện với nhiều cấp độ với nội dung và hình thức khác nhau: trao đổi với các đoàn tham quan, mời các chuyên gia về giảng bài, trao đổi kinh nghiệm, học tập các chương trình CS -GD trẻ hiện đại của các trường MN ở các quốc gia tiên tiến… Hợp tác quốc tế của các trường MN cần đáp ứng các yêu cầu sau đây: xác định các điều kiện, mục tiêu, mức độ và đối tượng hợp tác; xây dựng và triển khai kế hoạch hợp tác quốc tế phù hợp với điều kiện của trường; hoạt động hợp tác quốc tế phục vụ đắc lực cho công tác CS-GD, góp phần giải quyết các vấn đề phát triển nhà trường. Hoạt động hợp tác quốc tế có hiệu quả sẽ góp phần tăng các nguồn lực của trường và qua đó nâng cao chất lượng CS-GD trẻ…

3.2.6. Tổ chức và quản lý

Tổ chức và quản lý là một thành tố có ý nghĩa quan trọng đối với CL CS-GD trẻ của một trường MN. Đối với các trường MN- đặc biệt là trường MNTT, công tác tổ chức và quản lý chỉ thực sự hiệu quả khi đáp ứng các yêu cầu sau đây:

Tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tự kiểm soát bên trong của các trường MN được phát huy. Yêu cầu này đặc biệt quan trọng đối với các trường MNTT vì vấn đề quản lý tài chính là vấn đề phức tạp, khó khăn nhất của quản lý nhà trường.

Các điều kiện ĐBCL và quản lý quá trình CS-GD trẻ được chuẩn hóa; CL đầu ra được chú trọng quản lý; xây dựng được hệ thống kiểm định bên trong về CL đào tạo;

Có các tiêu chí và phương thức đánh giá GV, đánh giá người QL; thực hiện cơ chế phụ huynh tham gia đánh giá hoạt động CS-GD trẻ của GV và nhân viên; GV và nhân viên tham gia đánh giá người QL;

Đội ngũ QL (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, Tổ trưởng chuyên môn) được bồi dưỡng và không ngừng nâng cao về nghiệp vụ quản lý…