Mẫu luận văn quản lý giáo dục Thái Bình chi tiết nhất

Nếu bạn đang cần tham khảo tài liệu về luận văn quản lý giáo dục Thái Bình để xây dựng bài luận văn của mình. Thì bài viết mà chuyendetotnghiep.net chia sẻ dưới đây sẽ là một nguồn đáng tin cậy cho bạn

Mẫu luận văn quản lý giáo dục Thái Bình chi tiết nhất

1. Sơ lược tổng quan vấn đề nghiên cứu

Giáo dục thường xuyên và sự phát triển

Như chúng ta đã biết GDTX cung ứng cơ hội học tập suốt đời nhằm thúc đẩy sự phát triển tài nguyên con người. Với nguồn tài nguyên con người được cải thiện sẽ tác động đến việc phát triển kinh tế xã hội.

Chính vì vậy, xu thế phát triển GDTX là tất yếu. GDTX ngày càng được khẳng định là một bộ phận quan trọng trong hệ thống giáo dục của các nước… GDTX được coi là “Chìa khóa” để bước vào thế kỷ 21 và nhiều ngành khoa học đã dự báo thế kỷ 21 là “Thế kỷ của GDTX”.

>>> Xem thêm: Mẫu luận văn quản trị giáo dục mầm non

Trong thực tiễn GDKCQ và GDTX đã được triển khai từ những năm 1945 và phát triển khá mạnh mẽ, theo giai đoạn sau:

Giai đoạn 1945 – 1959 phong trào bình dân học vụ, bổ túc văn hóa bước đầu hình thành một xã hội học tập với sự hưởng ứng sôi nổi của mọi tầng lớp nhân dân, làm cho số người biết chữ tăng lên đáng kể.

Giai đoạn 1959 – 1989, hệ thống giáo dục Bình dân học vụ chuyển trọng tâm sang nâng cao trình độ học vấn cho người lớn – người lao động và được gọi là hệ thống Bổ túc văn hoá, song hành với hệ thống giáo dục phổ thông. Với phương châm “Cần gì học nấy”, hệ thống Bổ túc văn hóa rất đa dạng về hình thức tổ chức cũng như về chương trình học tập.Hình thức học tập tại chức có loại trường, lớp dành cho đối tượng công tác tại cơ quan, xí nghiệp, có loại trường, lớp dành cho đối tượng là nông dân. Hình thức học tập tập trung, có trường phổ thông lao động (dành cho cán bộ quản lý), trường bổ túc văn hóa công nông dành cho những người lao động trẻ tuổi để đưa vào đại học nhằm đào tạo cán bộ khoa học – kỹ thuật xuất thân từ công nông. Mỗi loại hình trường/ lớp lại có chương trình và sách giáo khoa (hoặc tài liệu học tập riêng) nhằm “phù hợp với đối tượng và mục tiêu đào tạo”.

Giai đoạn 1989 – 1993 thời kỳ giáo dục bổ túc, mục tiêu chủ yếu là đáp ứng nhu cầu nhiều mặt và thường xuyên của nhân dân, đặc biệt đối với những đối tượng không được hưởng hoặc được hưởng không đầy đủ sự giáo dục trong nhà trường chính quy, giúp họ có thêm điều kiện để thành đạt trong nghề nghiệp và trong hoạt động xã hội.

Từ năm 1993 đến nay, sự ra đời của các Trung tâm GDTX cấp tỉnh, cấp huyện đã hòa nhập giáo dục bổ túc với đào tạo bồi dưỡng tại chức thành hệ thống giáo dục và đào tạo thường xuyên, cung cấp cơ hội học tập cho mọi người.

Ngày 4/11/1993 Chính phủ đã có Nghị định số 90/CP về cơ cấu khung của hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, GDTX là một trong năm phân hệ ngành học của hệ thống giáo dục quốc dân.Về cơ sở pháp lý, vấn đề học tập suốt đời và XHHT, vấn đề GDKCQ và GDTX đã được thể chế hóa trong Luật Giáo dục và trong nhiều văn bản pháp quy khác.

Phong trào học trong nhân dân ngày càng phát triển mạnh, người học không những có nhu cầu học BTVH mà còn có nhu cầu học nâng cao hiểu biết về chính trị, pháp luật, nghề nghiệp …Các trường BTVH hiện nay không chỉ thực hiện nhiệm vụ đơn thuần mà đã dần chuyển sang làm nhiệm vụ đa chức năng như dạy nghề, phổ biến kiến thức thông thường mà người học có nhu cầu với đòi hỏi của thực tiễn từ đó các Trung tâm GDTX dần dần ra đời đảm nhận nhiệm vụ đa chức năng, đáp ứng nhu cầu người học (Theo CT40/CT ngày 24/7/1991 và CT07/ngày 27/9/1993 của Bộ GD&ĐT). Sự ra đời các trung tâm GDTX thể hiện sự quan tâm của Đảng đến nhu cầu học tập đa dạng của nhân dân và xây dựng ngành học hỗ trợ cho GDCQ là GDTX.

Từ 1993 đến nay, GDTX đã trở thành một trong năm phân hệ trong hệ thống giáo dục quốc dân (Nghị định 90/CP ngày 4/11/1990 của Chính phủ quy định cơ cấu khung của hệ thống giáo dục quốc dân) có chức năng: Dạy BTVH, dạy nghề., dạy ngoại ngữ, dạy tin học, dạy các chuyên đề đáp ứng theo nhu cầu người học …

Năm 1998 Luật Giáo dục ra đời, theo luật thì GDTX trước đây nay đổi thành phương thức GDKCQ. Chức năng nhiệm vụ GDKCQ được thực hiện như GDTX.

Năm 2005 Luật giáo dục mới ban hành, hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính qui và giáo dục thường xuyên.

Đại hội Đảng lần thứ III (1960) đã đề ra chủ trương “Vừa đào tạo tập trung, vừa đào tạo tại chức”.

Đại hội đảng lần thứ IV (1976) tiếp tục nhấn mạnh:

“Phải tích cực xây dựng hệ thống đào tạo, bồi dưỡng tại chức với nhiều hình thức học tập đảm bảo cho mọi người lao động đều có thể suốt đời tham gia học tập, trau dồi nghề nghiệp và mở rộng kiến thức”. [13.Tr62]

Công tác đào tạo đại học tại chức phát triển mạnh mẽ, Nghị quyết 14 của Bộ chính trị về cải cách giáo dục (1979) đã cụ thể hóa thêm: “Hệ thống mạng lưới trường, lớp tại chức phải được tổ chức rộng khắp, bao gồm nhiều hình thức học tập linh hoạt thuận tiện cho người học. Hệ thống đó phải gắn liền với hệ thống đào tạo tập trung nhưng có tổ chức và người phụ trách riêng’’. [13.Tr62]

Nghị quyết số 73/NQ-HĐBT năm 1983 của Hội đồng Bộ trưởng đã cho phép thành lập trung tâm đào tạo, bồi dưỡng tại chức tỉnh trên cơ sở các tổ chức đa dạng ở địa phương đã hình thành từ trước. Đây là một mô hình cơ sở giáo dục mới dựa trên sự liên kết của các trường ĐH với các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh.Đây là một quyết định rất quan trọng, tạo một bước tiến công tác đào tạo bồi dưỡng đại học hình thức vừa học vừa làm, học từ xa.

Hoạt động liên kết đã để lại những kinh nghiệm thiết thực cần tổng kết và phát huy, nâng cao vai trò các trung tâm GDTX trong đào tạo liên kết ở các bậc học, cấp học hình thức học khác nhau;

Từ những năm (1988 – 1991) đã thí điểm hệ đào tạo đại học không chính quy với những hình thức mới đi đôi với những tên gọi mới như đại học mở rộng tự học có hướng dẫn, đào tạo từ xa, đại học mở (cả nước đã thành lập hai Viện đại học mở tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh).

Các chương trình đào tạo từ xa và liên kết đào tạo tại các cơ sở GDTX hàng năm có hàng trăm ngàn người theo học các lớp đại học, cao đẳng theo hình thức vừa làm vừa học (hệ tại chức), học theo hình thức từ xa năm học 2009-2010 có 32.190 học viên của 16 tỉnh thành phố học theo hình thức đào tạo từ xa; 85.431 học viên theo học hình thức vừa làm vừa học.[13.Tr65]

Nghị định 90-NĐ/CP ngày 24/11/1993 của Chính phủ đã công nhận GDTX là một trong 5 thành phần của hệ thống giáo dục quốc dân.

Luật giáo dục 1998 (Quốc hội thông qua ngày 24/11/1998) coi “Giáo dục không chính quy là một phương thức giáo dục giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm và thích nghi với đời sống xã hội’’. Trong Luật giáo dục 2005 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2009) tại khoản 1 điều 4 quy định: “Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên”, điều 44 quy định “Giáo dục thường xuyên giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi đời sống với đời sống xã hội”

Báo cáo của chính phủ trước Quốc hội tại kỳ họp tháng 10/2004 cũng đã chỉ rõ: “Các chương trình giáo dục từ xa vẫn đang trong quá trình xây dựng, tiến độ còn chậm, chất lượng còn thấp, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, điều kiện tổ chức thực hành, thực nghiệm còn rất hạn chế. Việc quản lý lỏng lẻo đối với các lớp liên kết đào tạo và cấp văn bằng đã dẫn đến tình trạng “Học giả, bằng thật”.Đây là một khâu yếu nghiêm trọng của giáo dục không chính quy ở nước ta”.

Các báo cáo tổng kết giáo dục thường xuyên hàng năm của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã đề cập đến công tác quản lý các lớp đại học, cao đẳng TCCN, theo hình thức liên kết, nhưng còn rất ít công trình nghiên cứu có hệ thống, có thực nghiệm tại một cơ sở giáo dục cụ thể.

Với lý do đó, trong luận văn này tác giả mạnh dạn phân tích một cách tương đối toàn diện có hệ thống và căn cứ thực trạng của quản lý hoạt động đào tạo theo hình thức liên kết ở Trung tâm GDTX tỉnh Thái Bình và Trung tâm GDTX và Hướng nghiệp Tiền Hải với các trường Đại học, Cao đẳng, THCN, TCN mà các trung tâm phối hợp liên kết đào tạo. Bước đầu đề xuất và khảo nghiệm các biện pháp quản lý nhằm kết hợp chặt chẽ giữa đơn vị chủ trì đào tạo và đơn vị phối hợp đào tạo để nhằm nâng cao chất lượng quản lý hoạt động liên kết đào tạo các lớp đại học, cao đẳng, THCN, và TCN theo hình thức liên kết tại trung tâm GDTX cấp tỉnh và trung tâm GDTX cấp huyện trên địa bàn tỉnh Thái Bình.

2. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu

2.1. Khái niệm quản lý và quản lý giáo dục

*Quản lý: Thuật ngữ quản lý được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau. Theo những định nghĩa kinh điển nhất hoạt động quản lý là các tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. Hiện nay hoạt động quản lý thường được định nghĩa rõ hơn: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”.[2.Tr9]

Có nhiều tác giả đã đưa ra những quan niệm khác nhau về quản lý như sau:

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”. [15]

Các tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc:“Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”. [2.Tr9]

Tóm lại, quản lý là sự tác động có ý thức nhằm điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội những hành vi hoạt động của con người, huy động tối đa các nguồn lực khác nhau để đạt tới mục đích theo ý chí của nhà quản lý và phù hợp với quy luật khách quan.

Chức năng quản lý: Chức năng của quản lý là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ định của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý. Đó là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể quản lý phải tiến hành trong quá trình quản lý. Hầu hết các tác giả đều đề cập tới bốn chức năng chủ yếu đó là: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và trong đó thông tin vừa là phương tiện, vừa là điều kiện để thực hiện chức năng quản lý.

Chức năng kế hoạch hoá: Để thực hiện chủ chương, chương trình, dự án kế hoạch hoá là hành động đầu tiên, chức năng cơ bản để hoàn thành các chức năng khác. Đây được coi là chức năng chỉ lối làm cho tổ chức phát triển theo kế hoạch. Trong quản lý đây là căn cứ mang tính pháp lý quy định hành động của cả tổ chức.

Chức năng tổ chức: Thực chất của tổ chức là thiết lập mối quan hệ, liên hệ giữa con người với con người, giữa các bộ phận riêng rẽ thành một hệ thống hoạt động nhịp nhàng của một cơ thể thống nhất. Một tổ chức được thiết kế phù hợp sẽ phát huy được năng lực nội sinh và có ý nghĩa quyết định đến việc chuyển hoá kế hoạch thành hiện thực, tổ chức tốt sẽ khơi nguồn cho các tiềm năng.

Chức năng chỉ đạo: Đây là quá trình tác động qua lại giữa chủ thể quản lý và mọi thành viên trong tổ chức nhằm giúp phần thực hiện hoá các mục tiêu đề ra. Bản chất của chức năng chỉ đạo xét cho cùng là sự tác động lên con người, khơi dậy những tiềm năng của con người trong hệ thống quản lý, thực hiện tốt mối liên hệ giữa con người với con người và quá trình đó giải quyết những mối quan hệ đó để họ tự nguyện, tự giác và hăng hái phấn đấu trong công việc.

Chức năng kiểm tra: Chức năng kiểm tra nhằm đánh giá việc thực hiện các mục tiêu đề ra, điều cần lưu ý là khi kiểm tra phải theo chuẩn. Chuẩn phải xuất phát từ mục tiêu, là đòi hỏi bắt buộc đối với mọi thành viên của tổ chức.

Cuối cùng, tất cả các chức năng trên đều cần đến yếu tố thông tin.

Thông tin đầy đủ, kịp thời, cập nhật, chính xác là một căn cứ để hoạch định kế hoạch; thông tin cũng cần cho các bộ phận trong cơ cấu tổ chức, là chất liệu tạo quan hệ giữa các bộ phận trong tổ chức, thông tin truyền tải mệnh lệnh chỉ đạo (thông tin xuôi) và phản hồi (thông tin ngược) diễn tiến hoạt động của tổ chức và thông tin từ kết quả hoạt động của tổ chức giúp cho người quản lý xem xét mức độ đạt mục tiêu của toàn tổ chức.

*Quản lý giáo dục: là một môn khoa học quản lý chuyên ngành, người ta nghiên cứu nó trên nền tảng của khoa học quản lý nói chung, cũng giống như khái niệm quản lý, khái niệm quản lý giáo dục cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau.

Theo tác giả Bush T: “Quản lý giáo dục, một cách khái quát là sự tác động có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý giáo dục tới đối tượng quản lý giáo dục theo cách sử dụng các nguồn lực càng có hiệu quả càng tốt nhằm đạt mục tiêu đề ra”.[14.Tr17]

Ở Việt Nam, quản lý giáo dục cũng là lĩnh vực được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (Hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất”.[15]

Theo Đặng Quốc Bảo trong tập bài giảng “Những vấn đề cơ bản về quản lý giáo dục” có nêu: Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là điều hành phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người. Cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân.[1]

Những khái niệm trên về quản lý giáo dục tuy có những cách diễn đạt khác nhau nhưng tựu chung lại có thể hiểu là sự tác động có tổ chức, có định hướng phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý ở các cấp lên đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục của từng cơ sở và toàn bộ hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu.

Trong quản lý giáo dục, chủ thể quản lý ở các cấp chính là bộ máy quản lý giáo dục từ trung ương đến cơ sở. Còn đối tượng quản lý chính là nguồn nhân lực, cơ sở vật chất kỹ thuật và hoạt động thực hiện chức năng của giáo dục đào tạo. Hiểu một cách cụ thể có thể xem khái niệm quản lý giáo dục theo hai cấp độ: Quản lý hệ thống giáo dục và quản lý trường học cấp độ quản lý hệ thống giáo dục: Quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục nhằm đảm bảo cho hệ thống giáo dục vận hành bình thường và liên tục phát triển, mở rộng cả về số lượng cũng như chất lượng.

Ở cấp độ quản lý trường học: Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có chủ đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, nhân viên, người học, cha mẹ học sinh và các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, nhằm huy động họ cùng phối hợp, tác động tham gia các hoạt động giáo dục của nhà trường để đạt mục đích đã định.

2.2. Quản lý Trung tâm GDTX

Luật giáo dục nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005 đã chỉ rõ: “Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên” [16]. Đối với hệ thống GDTX bao gồm các trung tâm giáo dục thường xuyên được tổ chức tại cấp tỉnh, cấp huyện; trung tâm học tập cộng đồng tổ chức tại xã phường, thị trấn.

Trong xu hướng phát triển của hệ thống giáo dục quốc dân nước ta hiện nay, thực hiện xã hội hóa giáo dục thu hút các lực lượng xã hội tham gia phát triển giáo dục trên cơ sở đa dạng hóa các loại hình trường học. Ngoài trường quốc lập được phép mở các trường bán công, dân lập, tư thục với các chế độ học tập khác nhau: Tập trung, ngắn hạn, dài hạn, học từ xa, tại chức, bổ túc văn hóa… Tổ chức phân luồng và phân hóa chuẩn bị cho một số lớp học sinh vào các trường nghề, đào tạo nhân lực có kỹ thuật cho nền kinh tế đất nước.

Các nghiên cứu về tổ chức trường học đã khái quát những nhân tố cấu trúc cần quan tâm khi tổ chức nhà trường như dưới đây. Các yếu tố này có đặc trưng riêng khi triển khai ở trung tâm GDTX.

Nhóm nhân tố thứ nhất:

Mục tiêu đào tạo (M) chịu sự quy định của mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội.

Nội dung đào taọ (N) đươc̣ xác đinḥ từ muc̣ tiêu đào taọ vàthành quả của khoa học kỹ thuật, văn hóa.

Phương pháp đào taọ (P) đươc̣ hinh̀ thành từ thành quảcủa khoa hoc̣ kỹ giáo dục và quy định bởi mục tiêu, nội dung giáo dục.

Nhóm nhân tố thứ hai:

Lực lượng̣ đào tạo (Người daỵ – Th) trong mối quan với lao đông̣ xã hội của đất nước với xã hội.

Đối tượng đào tạo (Người hoc̣ -Tr) trong mối quan hê ̣với dân số hoc̣ đường (các tuổi tương ứng với cấp độ, bậc học).

Nhóm thứ ba:

Hình thức đào tạo (H)

Điều kiêṇ đào taọ (Đ)

Môi trường đào tạo (môi trường tư ̣nhiên vàmôi trường xa ̃hôị) (Mô).

Bô ̣máy đào taọ (Bô)

Quy chế đào taọ (Qi)

*Hệ thống giáo dục không chính quy cấp tỉnh hiện nay:

Trên địa bàn tỉnh, thành, có các tổ chức giáo dục không chính quy sau đây:

Trung tâm giáo dục thường xuyên. Trên địa bàn tỉnh, thành và huyện trung tâm GDTX thực hiện nhiều chức năng khác nhau, những chủ yếu là bổ túc văn hóa trung học, liên kết với trường cao đẳng hoặc đại học để đào tạo tại chức, dạy một số nghề.

Việt Nam, các loại hình học tập không chính quy được đưa vào khái niệm GDTX. Từ cách hiểu này, chúng ta sẽ thấy logic hình thức trong nhận thức về GDTX ở nước ta như sau:

Giáo dục thường xuyên là một hệ thống gồm các loại hình học tập thuộc phạm vi giáo dục tiếp tục. Do vậy, GDTX không bao hàm các hình thức chính quy trong hệ giáo dục ban đầu. Nói đến GDTX, người ta hiểu rằng đó là giáo dục tiếp tục.

Theo quy định của Luật giáo dục năm 2005, giáo dục tiếp tục bao gồm mọi loại hình giáo dục không chính quy. Do tính chất bắc cầu trong quan niệm nói trên nên nói đến GDTX là ai cũng hiểu rằng đó là giáo dục không chính quy.

Trung tâm GDTX là đơn vị sự nghiệp có chức năng và nhiệm vụ đặc trưng nổi bật và khác với các đơn vị nhà trường vì không xây dựng môi trường học tập thường xuyên thì không còn gọi là trung tâm GDTX nữa. Đây cũng là trách nhiệm của các chủ thể trong trung tâm GDTX để tồn tại và phát triển.

Trung tâm GDTX là một cộng đồng học tập không chỉ đối với các học viên, học sinh mà còn đối với cả ban giám đốc và giáo viên do đó bản chất trung tâm GDTX thể hiện ở ba khía cạnh: một là tính sư phạm, hai là bản chất xã hội, ba là bản chất giai cấp.

Có thể nói rằng: Quản lý trung tâm GDTX là hệ thống tác động có mục đích, có tổ chức của ban lãnh đạo trung tâm đến con người (giáo viên, cán bộ, nhân viên, và học viên) và các nguồn lực khác gồm (CSVC, tài chính, thông tin) hợp quy luật đó là (Quy luật quản lý, quy luật giáo dục, quy luật kinh tế, quy luật xã hội …) bằng việc vận dụng các chức năng và phương tiện quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất mọi nguồn lực, tiềm năng và cơ hội cũng như thách thức của trung tâm GDTX để đạt được mục tiêu đề ra.

2.3. Đào tạo, liên kết đào tạo

2.3.1. Khái niệm đào tạo

Theo từ điển bách khoa Việt Nam: “Đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người” [22]

Theo tác giả Nguyễn Minh Đường: “Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, nhằm hình thành và phát triển hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ…để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách năng suất, hiệu quả” [11]

Như vậy, có thể hiểu đào tạo là quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, đồng thời giáo dục phẩm chất đạo đức, thái độ cho học sinh và thanh niên để họ trở thành người công dân, người lao động có chuyên môn và nghề nghiệp nhất định. Nhằm thoả mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân, đáp ứng yêu cầu nhân lực của xã hội trong một gia đoạn lịch sử nhất định. Quá trình này diễn ra trong các cơ sở đào tạo như: Các trường Đại học, Trung cấp chuyên nghiệp, các Trung tâm giáo dục thường xuyên, Trung tâm dạy nghề… theo một kế hoạch, nội dung chương trình quy định cho từng ngành nghề cụ thể, nhằm giúp người học đạt được một trình độ nhất định trong lao động nghề nghiệp.

Quá trình đào tạo là một chỉnh thống nhất, ngoài hai nhân tố cơ bản là giảng viên/giáo viên và sinh viên/ học sinh còn có nhiều nhân tố khác tham gia. Các nhân tố đó bao gồm: Mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức đào tạo cùng với môi trường văn hóa, chính trị, xã hội, kinh tế, khoa học, kỹ thuật của của đất nước trong trào lưu phát triển của thời đại.

Quá trình đào tạo bắt đầu từ việc xây dựng mục tiêu đào tạo. Từ đó xác định các nhiệm vụ cụ thể. Mục tiêu được xác định đúng và mọi người đều được thấm nhuần, đều ý thức được nó thì mới đạt đến chất lượng và hiệu quả. Ngoài các yếu tố khác như nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, phương tiện, thiết bị thì đào tạo cần có một môi trường thuận lợi ở cả hai phương diện vi mô và vĩ mô.

Sự vận động và phát triển của quá trình đào tạo là kết quả của quá trình tác động biện chứng giữa các nhân tố trên. Muốn nâng cao chất lượng đào tạo phải nâng cao chất lượng của từng thành tố và đồng thời nâng cao chất lượng tổng hợp của toàn hệ thống.

Trong đào tạo, LKĐT là hình thức phối hợp, hỗ trợ tạo sự gắn bó chặt chẽ với nhau giữa các cơ sở đào tạo với các đối tác khác nhau nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của cơ sở đào tạo.

2.3.2. Khái niệm liên kết

Liên kết là “kết, buộc lại với nhau, gắn bó chặt chẽ với nhau” (từ điển Từ và Ngữ Hán Việt).

Theo Đại từ điển Tiếng Việt – NXB Văn hóa – Thông tin 2005 (Nguyễn Như Ý chủ biên) thuật ngữ “Liên kết” cũng được định nghĩa là: “Kết lại với nhau từ nhiều thành phần hoặc tố chức riêng rẽ nhằm mục đích nào đó” [24]. Khái niệm liên kết phản ánh các mối quan hệ chặt chẽ, ràng buộc lẫn nhau giữa các thành phần trong một tổ chức hoặc giữa các tổ chức với nhau nhằm hướng đến một mục đích chung nào đó. Sự liên kết giữa các tổ chức theo một mục đích nào đó (lợi ích chung, giải quyết một vấn đề chung…) tạo nên một sức mạnh mới, khả năng mới mà từng thành phần hoặc tổ chức riêng rẽ không thể có.

Nói đến liên kết là nói đến các nội dung sau:

Mục đích của liên kết: Phản ánh lợi ích, mong muốn chung và cụ thể của từng tổ chức, thành phần tham gia liên kết như lợi ích kinh tế, lợi ích môi trường…

Các thành phần, tổ chức liên kết: Bao gồm các thành phần tổ chức độc lập, có tư cách pháp nhân thuộc nhiều loại hình, tổ chức kinh tế – xã hội, giáo dục – đào tạo, cơ quan quản lý nhà nước…tham gia với những vai trò, vị trí nhất định trong liên kết.

Các hình thức liên kết: Tùy theo mục đích và tính chất liên kết mà có thể có theo hình thức tổ chức đào tạo các khóa đào tạo liên kết, thỏa thuận phối hợp thực hiện các dự án nghiên cứu hay phát triển các sản phẩm dịch vụ, các hợp đồng kinh tế trong hợp tác nghiên cứu, đào tạo và bồi dưỡng nhân lực, nghiên cứu và sản xuất sản phẩm mới,…

Các nội dung liên kết: Tùy thuộc vào mục đích đối tượng và hình thức liên kết mà có các nội dung liên kết sẽ khác nhau bao gồm: Đầu tư, hỗ trợ tài chính, đào tạo và bồi dưỡng nhân tài, nghiên cứu khoa học và công nghệ đến các hoạt động sản xuất kinh doanh với vai trò, vị trí, trách nhiệm tham gia theo thỏa thuận của các bên tham gia liên kết.

Cơ chế liên kết: Là cách thức tổ chức, quản lý và các nguyên tắc vận hành các mối liên kết bảo đảm đạt được mục tiêu mong muốn và trách nhiệm, quyền lợi, lợi ích của các bên tham gia liên kết. Trên thực tế có thể phối hợp nhiều cơ chế khác nhau như cơ chế thị trường (theo quy luật cung cầu, giá trị, giá cả…), cơ chế hợp tác, liên kết mở, liên kết toàn diện…

Sản phẩm liên kết: Là các sản phẩm được tạo ra của quá trình liên kết như các sản phẩm hàng hóa – dịch vụ; Sản phẩm đào tạo (nhân lực KH&CN); sản phẩm nghiên cứu khoa học – công nghệ (vật liệu mới, thiết bị, quy trình, công nghệ mới…).

Môi trường và các điều kiện liên kết: Là tập hợp các nhân tố bên ngoài (môi trường chính trị – xã hội, kinh tế văn hóa, các tổ chức khác,…) và môi trường bên trong của mối liên kết giữa các đối tác (các quan hệ nội bộ, các điều kiện, đặc tính bên trong của từng đối tác…)

3. Quản lý quá trình đào tạo

Trong quản lý giáo dục dạy học và quản lý quá trình đào tạo.

Một cách tổng quát ta có thể hiểu quản lý giáo dục và đào tạo là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo các thế hệ công dân theo yêu cầu phát triển của xã hội.

Cũng như hoạt động kinh tế – xã hội, quản lý đào tạo có hai chức năng tổng quát: Thứ nhất, đó là chức năng ổn định, duy trì quá trình đào tạo, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế – xã hội trong giai đoạn trước mắt. Thứ hai là chức năng đổi mới, phát triển quá trình đào tạo đón đầu sự tiến bộ kinh tế – xã hội.

Từ hai chức năng tổng quát trên, quản lý giáo dục và đào tạo phải quán triệt, gắn bó với bốn chức năng:

Lập kế hoạch đào tạo: Đưa mọi hoạt động giáo dục và đào tạo vào kế hoạch với mục tiêu, biện pháp rõ ràng, bước đi cụ thể, ấn định tường minh các điều kiện cung ứng cho việc thực hiện mục tiêu.

Tổ chức đào tạo: Hình thành và phát triển quá trình đào tạo tương ứng với mục tiêu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.

Chỉ huy, điều hành quá trình đào tạo: Chức năng này mang tính tác nghiệp trong quá trình thực hiện kế hoạch, lưu ý lấy ý kiến một cách dân chủ của cơ sở và điều hành, chỉ huy một cách tập chung và thống nhất.

Kiểm tra: Việc này gắn với đánh giá kết quả đào tạo, tổng kết kinh nghiệm,liên kết đào tạo, điều chỉnh mục tiêu. Tóm lại quản lý đào tạo là các yếu tố sau:

Mục tiêu đào tạo

Nội dung đào tạo

Phương pháp đào tạo

Lực lượng đào tạo (giảng viên/ giáo viên)

Đối tượng đào tạo (sinh viên/học sinh)

Hình thức tổ chức đào tạo

Điều kiện đào tạo

Môi trường đào tạo

Quy chế đào tạo

Bộ máy tổ chức đào tạo

4. Xu thế phát triển GDTX ở một số quốc gia và ở Việt Nam

4.1. Xu thế phát triển GDTX ở một số quốc gia trên thế giới

Hội nghị thế giới về Giáo dục cho mọi người được tổ chức tại Đaka, Senegal, tháng 4 năm 2000 đã khẳng định tầm quan trọng của GDTX trước ngưỡng cửa thế kỷ 21, trong việc tạo cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người để có thể chống chọi được với những thách thức của thế kỷ 21.

Trong 21 điểm chiến lược phát triển giáo dục thế kỷ 21 của UNESCO đã có tới 6 điểm nói về GDTX, trong đó điểm thứ nhất đã chỉ rõ chủ chương phát triển GDTX trong những năm tới của các nước “GDTX phải là nét chủ đạo của mọi chính sách giáo dục trong những năm tới tại các nước công nghiệp phát triển, cũng như các nước đang phát triển”. Điểm thứ hai trong chiến lược này đã chỉ rõ “GDTX cho mọi lứa tuổi trong suốt cuộc đời, không chỉ bó hẹp trong 4 bức tường nhà trường, có nghĩa là phải cải tổ toàn diện nền giáo dục”. Và điểm thứ mười hai trong chiến lược này đã khẳng định “Phát triển nhanh chóng giáo dục người lớn, cả trong nhà trường lẫn ngoài nhà trường, phải là một mục tiêu ưu tiên của các chiến lược trong những năm tới”.Đây chính là những định hướng lớn cho phát triển GDTX trong những thập kỉ đầu của thế kỷ 21 trên phạm vi toàn cầu. Dưới đây là xu thế phát triển hệ thống GDTX (GDKCQ) ở một số nước trên thế giới:

1. Giáo dục không chính quy ở Nhật Bản

Từ trước Đại chiến thế giới II, tại Nhật Bản , nền giáo dục có hai bộ phận:

Giáo dục nhà trường (School Education) cho thanh thiếu niên; Giáo dục xã hội (Social Education) cho người lớn.

Sau chiến tranh, cả hai hệ thống này phát triển rất mạnh. Trước ngưỡng cửa của thế kỷ 21, Nhật Bản đã tạo ra một môi trường sống động, phong phú, trong đó, người dân được hưởng thụ nền giáo dục tiến bộ, dân chủ, bình đẳng về cơ hội học tập cho mọi người. Nền giáo dục đó được định hướng tới một tổ chức giáo dục suốt đời trên toàn Nhật Bản, cho phép mọi người được tự do lựa chọn nội dung học, hình thức học theo nhu cầu và hoàn cảnh của mình.

Năm 1988, chính phủ Nhật Bản đã lập phòng “Giáo dục suốt đời” và đến năm 1990 chuyển thành Ủy ban Quốc gia về giáo dục suốt đời. Nhật Bản đã chuyển mạnh nền giáo dục định hướng bằng cấp sang nền giáo dục đề cao giá trị học hỏi ở mọi lúc, mọi nơi, mọi phương tiện, cấp bằng hay không cấp bằng giúp người dân tiếp cận ngày càng nhiều với việc học không chính quy.

2. Giáo dục không chính quy trong hệ thống giáo dục suốt đời ở Hàn Quốc Hàn Quốc là một quốc gia có nền giáo dục phát triển. Nhiều chuyên gia iáo dục trên thế giới đánh giá rằng, ngay ở bậc trung học ở Anh Quốc, tỉ lệ học sinh theo học cũng không vượt quá Hàn Quốc. Với một hệ thống giáo dục thuộc loại bậc nhất trên thế giới về quy mô, Hàn Quốc hướng đến một xã hội học tập suốt đời ở thế kỷ 21, và do đó, họ đã tiến hành cải cách mạnh mẽ và toàn diện để phù hợp với kỷ nguyên thông tin và toàn cầu hóa.

Tại Hàn Quốc, những chính sách giáo dục người lớn có thể kể đến là:

Các lớp học (đại học) buổi tối hay theo mùa;

Trường học từ xa có cấp bằng;

Thiết lập các trường đại học mở;

Xây dựng các trường đại học ở địa phương;

Cung cấp chương trình đào tạo thạc sĩ cho người lao động qua các trường sau đại học buổi tối hoặc theo mùa.

Chính sách giáo dục đại học cho người lớn ở Hàn Quốc hiện nay là một điển hình về một nền giáo dục hiện đại, trong đó, người lớn là một đối tượng được chú ý. Đó là một trong những nguyên nhân thành công trong những nỗ lực phát triển kinh tế – xã hội ở Hàn Quốc.

3. Vương quốc Anh và việc xây dựng hệ thống giáo dục không chính quy

Tại Anh Bộ Giáo dục và Lao động đề ra mục tiêu làm cho mọi người có những cơ hội tốt nhất để được giáo dục, đào tạo và lao động, có vị trí trong xã hội và có quyền đóng góp vào sự cạnh tranh của Anh quốc trong thế kỷ 21. Những mục tiêu cơ bản của nền giáo dục nước Anh là:

Bảo đảm cho tất cả trẻ em đến 16 tuổi đạt được các tiêu chuẩn cao nhất về kiến thức và kỹ năng cơ bản;

Khuyến khích người dân không ngừng nâng cao kiến thức và các kĩ năng trong suốt cuộc đời;

Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào việc đào tạo, đào tạo lại và giáo dục đối với người lao động;

Thúc đẩy phát triển một thị trường lao động công bằng và linh hoạt;

Thực hiện sự bình đẳng về cơ hội học tập, sự công bằng về giáo dục, đào tạo và nơi làm việc, xóa bỏ sự ngăn cấm và sự tước đoạt cơ hội giáo dục và đào tạo trong xã hội.

Ở nước Anh có 4 hệ thống cung ứng dịch vụ học tập cho người lớn: Trường đại học;

Các cơ sở giáo dục người lớn; Các tổ chức tình nguyện;

Viện giáo dục người lớn quốc gia.

Giáo dục không chính quy và chủ trương phổ cập giáo dục đại học đầu thế kỷ 21 ở Hoa Kỳ.

Hoa Kỳ số năm học bình quân của người dân là 14 năm, điều đó cho thấy đất nước này đã “Đại chúng hóa đại học”, và đứng trước thế kỷ 21, vấn đề đặt ra là phải phổ cập được trình độ đại học.

Hoa Kỳ chủ trương mở rộng cửa đại học cho công chúng.

Với Luật “Đầu tư vào lực lượng lao động”, các bang ở Mỹ đều có những trung tâm đào tạo lại người lao động, ngoài ra các trung tâm đó cùng các trường đại học còn có các chương trình đào tạo cho những người lớn có nhu cầu tìm kiếm việc làm. Những chương trình đào tạo lại cho những người bị sa thải cũng được chú ý.

Doanh nghiệp gắn với đào tạo và đào tạo lại để người làm thích nghi kịp thời và năng động với công nghệ mới, với các loại hình tổ chức mới.

Hơn nữa, giáo dục thế kỷ XXI phải đến với mọi người, mọi nhà, để mọi người dân được vươn lên trong cuộc sống, lao động và sáng tạo.

Mặt khác, giáo dục phải tạo ra được những công dân có trách nhiệm và ý nghĩa đối với xã hội; người dân phải được quyền lựa chọn tối đa để đạt được tri thức và phương pháp hành động.

Trong hệ thống giáo dục phải có nhiều điểm vào và điểm ra cho người học một cách linh hoạt (Tuyên bố chung của Hội nghị Giáo dục đại học thế giới do UNESCO tổ chức tại Pari tháng 10- 1998).

Hội nghị lần thứ III khu vực Châu Á – Thái Bình Dương về GDTX do UNESCO tổ chức tại Kuala Lumpur – Malaysia năm 1996 đã thể hiện sự quan tâm của các nước về GDTX, thừa nhận sự đóng góp to lớn của GDTX đối với việc nâng cao dân trí và đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển KT – XH, đối với sự phát triển cá nhân, xóa đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường; khẳng định vai trò của GDTX là chìa khóa vàng bước vào thế kỷ 21.

4.2. Xu thế phát triển GDTX ở Việt Nam

* Ý nghĩa của GDTX

GDTX thực hiện chức năng, nhiệm vụ tạo cơ hội cho mọi người ở mọi tầng lớp được học thường xuyên, học suốt đời, đáp ứng yêu cầu “cần gì học nấy”đã phản ánh tính nhân văn sâu sắc. GDTX càng có ý nghĩa đối với người không có điều kiện học tập theo con đường chính quy. GDTX giúp mọi người có thể học mọi lúc mọi nơi, tiết kiệm được thời gian, tiền của mà vẫn đạt được mong muốn.

Ở Việt Nam GDTX nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, là loại hình không thể thiếu trong GD&ĐT. GDTX góp phần lớn vào giáo dục toàn diện con người Việt Nam. Nó góp phần tích cực trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; phục vụ đắc lực công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Tầm quan trọng của Giáo dục thường xuyên

Trước những năm 1960 ở nước ta chủ yếu phát triển giáo dục trong nhà trường chính quy tập trung. Bước vào cuối thập kỷ 60 của thế kỷ 20, trước sự phát triển của cuộc cách mạng KH – CN, nhiều nước thấy rằng hệ thống giáo dục chính quy với các quy định cứng nhắc của nó không thể đáp ứng một cách kịp thời, năng động nhu cầu giáo dục – đào tạo thời đại thay đổi nhanh của KT–CN và KT–XH. Vì vậy cần mở rộng hệ thống giáo dục bằng những loại hình không chính quy, tạo điều kiện cho mọi người học tập ở mọi nơi, mọi lúc trong suốt cuộc đời. UNESCO đã đề xướng 4 trụ cột của giáo dục: Học để biết, học để làm, học để làm người, học để chung sống. Các phương thức giáo dục không chính quy góp phần thực hiện tốt nhất khẩu hiệu học suốt đời với 4 trụ cột này.

Có nhiều cách gọi loại hình Giáo dục không chính quy: Giáo dục phi chính quy, giáo dục tiếp tục, giáo dục người lớn, học tập suốt đời…

Các tổ chức quốc tế có nhiều khuyến nghị về phát triển loại hình giáo dục này:

Đề xuất của giáo dục Châu Á – Thái Bình Dương về giáo dục cho mọi người

Tuyên bố của Hôi nghị Jomtien (Thái Lan) về giáo dục cho mọi người

Chương trình Thiên niên kỷ thực hiện các mục tiêu giáo dục cơ sở.

Ngày nay Giáo dục không chính quy, giáo dục người lớn ngày càng trở lên quan trọng vì:

Cuộc cách mạng KH – CN ngày càng tăng tốc, ảnh hưởng mọi mặt đến đời sống KT – XH;

Quá trình hội nhập quốc tế ngày càng được đẩy mạnh;

Thế giới, nghề nghiệp biến động nhanh, năng lực hành nghề ngày càng đòi hỏi cao; khả năng mất việc là thường trực;

Khủng hoảng tài nguyên, môi trường sinh thái đe dọa toàn thế giới.

Phương châm Giáo dục thường xuyên

Cung ứng cơ hội để mọi người học tập suốt đời, phát huy cao độ tài nguyên con người thông qua các chương trình sau xóa mù chữ, chương trình giáo dục tương đương, chương trình nâng cao chất lượng sống, chương trình tạo thu nhập, chương trình đáp ứng sở thích cá nhân, chương trình định hướng tương lai…

* Những định hướng phát triển GDTX đến năm 2020

Đảng ta coi phát triển giáo dục nói chung và GDTX nói riêng phải gắn liền với phát triển kinh tế – xã hội.

Phát triển GDTX phải đảm bảo “Giáo dục cho mọi người, học tập suốt đời và công bằng xã hội “

Phát triển GDTX phải đặt trong sự phát triển chung của hệ thống giáo dục quốc dân.

Phát triển GDTX trên cơ sở xã hội hoá.

Đây là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân. Trong quan điểm chỉ đạo chung về giáo dục, Đảng nhấn mạnh việc “Giáo dục cho mọi người – giáo dục suốt đời – xây dựng xã hội học tập – đảm bảo công bằng xã hội …Nghị quyết TW2 khoá VII khẳng định: “Tạo điều kiện để ai cũng được học hành”, “Tạo cơ hội học tập cho mọi người có thể lựa chọn cách học phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnh của mình”. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX nêu rõ: “… Đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục, thực hiện công bằng trong giáo dục, tạo điều kiện cho mọi người ở mọi lứa tuổi được học thường xuyên suốt đời …đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng nhiều hình thức GDCQ và GDTX, thực hiện giáo dục cho mọi người, cả nước trở thành một xã hội học tập”. (Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX) Chủ trương này của Đảng đã tạo điều kiện để GDTX phát triển mạnh, toàn diện và rộng khắp.

Nghị quyết số: 29-NQ/TW Hội nghị trung ương 8 khóa XI của Ban chấp hành Trung ương đảng về đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo. Ở mục tiêu tổng quát trong Nghị quyết cũng nêu xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; Ở mục tiêu cụ thể đối với GDTX đảm bảo cơ hội cho mọi người, nhất là ở vùng nông thôn, các đối tượng chính sách được học tập nâng cao kiến thức, trình độ, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ và chất lượng cuộc sống; tạo điều kiện thuận lợi để người lao động chuyển đổi nghề. Hoàn thiện mạng lưới cơ sở giáo dục thường xuyên và các hình thức học tập, thực hành phong phú, linh hoạt, coi trọng tự học và giáo dục từ xa. Về nhiệm vụ, giải pháp trong nghị quyết đã đề cập đến “Đa dạng hóa nội dung, tài liệu học tập, đáp ứng yêu cầu của các bậc học, các chương trình giáo dục, đào tạo và nhu cầu học tập suốt đời của mọi người.”Đẩy mạnh phân luồng sau trung học cơ sở; định hướng nghề nghiệp ở trung học phổ thông.Tiếp tục nghiên cứu đổi mới hệ thống giáo dục phổ thông phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước và xu thế phát triển giáo dục của thế giới.Đẩy mạnh giáo dục nghề nghiệp sau trung học phổ thông, liên thông giữa giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. Đa dạng hóa các phương thức đào tạo. Thực hiện đào tạo theo tín chỉ. Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng năng lực, kỹ năng nghề tại cơ sở sản xuất, kinh doanh.[6]

Tiếp đó năm 2014 Quốc hội nước cộng hòa XHCN Việt Nam đã ban hành Luật giáo dục nghề nghiệp nhằm đáp ứng kịp thời công cuộc đổi mới căn bản toàn diện giáo dục Việt Nam. Luật này áp dụng đối với Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên, trường trung cấp, cao đẳng, doanh nghiệp và cơ quan tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động giáo dục nghề nghiệp tại Việt Nam.

5. Dowload mẫu luận văn quản lý giáo dục Thái Bình miễn phí

Nếu bạn muốn xem đầy đủ bài mẫu luận văn này, bạn có thể tải về tại đây