Mẫu chuyên đề tốt nghiệp marketing online chi tiết nhất

Trong bài viết này, chuyendetotnghiep.net sẽ chia sẻ với bạn đọc về mẫu chuyên đề tốt nghiệp marketing online chi tiết và đầy đủ nhất.

Đề tài: Hoàn thiện kế hoạch truyền thông online 

Mẫu chuyên đề tốt nghiệp marketing online chi tiết nhất

1. Truyền thông là gì?

1.1. Sơ lược về Marketing mix

Marketing Mix là sự phối hợp giữa các chiến lược sản phẩm, chiến lược giá, chiến lược phân phối và chiến lược chiêu thị nhằm để đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng mục tiêu, từ đó có được lợi thế trong cạnh tranh và thu được lợi nhuận. 

>>> Xem thêm: Tổng hợp đề tài tốt nghiệp quản trị kinh doanh đạt điểm cao

Chiến lược sản phẩm: Là tất cả những hoạt động có liên quan đến sản phẩm từ lúc được “ra đời” cho đến lúc “biết mất”. Một số chiến lược liên quan đến sản phẩm thường được sử dụng: Chiến lược phát triển sản phẩm mới; Chiến lược dòng sản phẩm; Chiến lược khác biệt hóa sản phẩm; Chiến lược đa dạng hóa sản phẩm; Chiến lược về nhãn hiệu, bao bì sản phẩm; Chiến lược về dịch vụ đi kèm sản phẩm… 

Chiến lược giá: Chiến lược giá là chiến lược có liên quan đến việc định giá sản phẩm, nhằm đạt mục tiêu Marketing: Mục tiêu tồn tại – khi công ty gặp nhiều khó khăn hoặc sản phẩm, dịch vụ mới; Mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận – khi có mục tiêu đạt lợi nhuận cao; Mục tiêu dẫn đầu thị phần – khi muốn giành hoặc mở rộng thị phần; Mục tiêu dẫn đầu về chất lượng sản phẩm – khi muốn chú trọng vào chất lượng sản phẩm… 

Chiến lược phân phối: Chiến lược phân phối là chiến lược mà trong đó kênh phân phối được hoạch định và tổ chức để hoạt động phân phối sản phẩm đạt hiệu quả cao nhất. Tổ chức kênh phân phối là việc phối hợp một hoặc nhiều loại hình phân phối và hệ thống phân phối với nhau như: phân phối theo hệ thống bán lẻ, phân phối theo hệ thống bán sỉ và hệ thống phân phối ngang, dọc hoặc đa kênh…

Chiến lược chiêu thị: 

Khái niệm: Chiến lược chiêu thị hay còn gọi là chiến lược xúc tiến hỗn hợp, là sự phối hợp các phối thức chiêu thị: Quảng cáo, Khuyến mãi, Bán hàng cá nhân, Quan hệ công chúng và Marketing trực tiếp; nhằm thực hiện công việc truyền thông để tạo sự nhận biết và thuyết phục người tiêu dùng mua và sử dụng sản phẩm, dịch vụ của công ty.

1.2. Khái niệm về truyền thông 

Quá trình truyền thông và các phần tử tham gia vào quá trình truyền thông có thể được thể hiện qua mô hình sau đây:

Mô hình các phần tử trong quá trình truyền thông

Dựa vào mô hình trên, có thể hình dung truyền thông cơ bản là một quá trình đưa thông tin đi từ cá nhân hoặc tổ chức gửi đến cá nhân hoặc tổ chức nhận bằng những phương tiện truyền thông khác nhau. 

1.3. Các yếu tố cơ bản trong truyền thông Marketing 

1.3.1.  Quy trình truyền thông

Theo nguồn tổng hợp từ PGS.TS Lê Thế Giới và T.S Nguyễn Xuân Lãn, tài liệu đã dẫn, chương 12, để phát triển một chiến lược truyền thông hiệu quả, người làm truyền thông cần phải thực hiện một quy trình gồm các bước chủ yếu sau:

  • Xác định công chúng mục tiêu của truyền thông 
  • Xác định mục tiêu truyền thông 
  • Thiết kế thông điệp truyền thông 
  • Lựa chọn kênh truyền thông 
  • Quyết định ngân sách (các phương pháp xác định ngân sách) 
  • Phối hợp các công cụ chiêu thị để thực hiện truyền thông 
  • Đánh giá kết quả truyền thông

1.3.2.  Xác định công chúng mục tiêu của truyền thông 

Công việc đầu tiên của người làm truyền thông là xác định công chúng mục tiêu. Công chúng có thể là khách hàng tiềm năng, khách hàng hiện thời, người ra quyết định mua hoặc cũng có thể là người gây ảnh hưởng trong quá trình mua. Sau khi xác định được công chúng mục tiêu, tiếp tục xác định truyền thông cái gì?, như thế nào?, khi nào?, ở đâu?… 

1.3.3.  Xác định mục tiêu của truyền thông 

Mục tiêu của truyền thông là kết quả cuối cùng mà người làm truyền thông muốn đạt được sau khi thực hiện xong kế hoạch truyền thông đó. Truyền thông chỉ đem lại hiệu quả nếu mục tiêu của truyền thông được xác định đúng ngay từ đầu. Một số mục tiêu thường được nhắm đến của truyền thông là:

Mục tiêu tạo sự nhận biết: làm cho đối tượng được truyền thông nhận biết sự có mặt của thương hiệu, sản phẩm, dịch vụ trong hàng loạt thương hiệu, sản phẩm, dịch vụ khác đang có mặt trên thị trường. 

Mục tiêu cung cấp thông tin: cung cấp cho thị trường những thông tin về thương hiệu, sản phẩm, dịch vụ để đảm bảo thông tin đến với đối tượng được truyền thông là đầy đủ, chính xác và đáng tin cậy. 

Mục tiêu thuyết phục: làm cho đối tượng được truyền thông nhận thức tốt, tin tưởng vào thương hiệu, sản phẩm, dịch vụ; kích thích nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ của khách hàng. 

Mục tiêu nhắc nhở: khiến cho đối tượng được truyền thông ghi nhớ về những thông tin có liên quan đến thương hiệu, sản phẩm, dịch vụ; duy trì sự nhận biết ở mức độ cao nhất. 

Mục tiêu xây dựng thương hiệu: tạo ra sự thay đổi nhận thức của đối tượng truyền thông về doanh nghiệp từ trạng thái xấu sang trạng thái tốt. 

Mục tiêu bán hàng: là mục tiêu mà sau khi thực hiện truyền thông, ngay lập tức, doanh nghiệp sẽ bán được hàng, tăng doanh số… 

Mục tiêu cạnh tranh: phục vụ cho việc cạnh tranh của doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác. 

Người làm truyền thông thường xác định mục tiêu của truyền thông bằng cách sử dụng các mô hình khác nhau về các giai đoạn “phản ứng đáp lại” của người tiêu dùng.

Mô hình các mức độ phản ứng của người tiêu dùng

Bằng cách dựa vào trạng thái “sẵn sàng mua” của phần lớn đối tượng truyền thông mục tiêu, người làm truyền thông có thể xác định được mục tiêu truyền thông là gì và nên tác động như thế nào để nhanh chóng đưa người được truyền thông tiến đến giai đoạn phát sinh “hành vi”. 

1.3.4. Thiết kế thông điệp 

Thông điệp được hiểu là một thông báo hàm chứa thông tin mà người gửi muốn gửi đến người nhận. Thiết kế thông điệp được thực hiện sau khi đã xác định công chúng truyền thông mục tiêu và mục tiêu của truyền thông Một thông điệp có vấn đề cần quan tâm: Nói cái gì? – Nội dung của thông điệp; Nói thế nào cho hợp lý? – Cấu trúc của thông điệp; Nói thế nào cho biểu cảm? – Hình thức thông điệp; và Ai nói để có tính thuyết phục? – Nguồn thông điệp. 

Về nội dung thông điệp: Nội dung thông điệp hàm chứa điều người truyền thông muốn đưa đến công chúng (nội dung của sản phẩm, dịch vụ: lợi ích, động cơ, đặc điểm…), đồng thời có những thông tin mà công chúng nhận thông điệp muốn nghe, muốn biết, muốn nghiên cứu. Có nhiều cách để thể hiện một thông điệp: Thông điệp mang tính lý tính – liên hệ đến lợi ích cho người nhận khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ như chất lượng sản phẩm, tính kinh tế, tính năng của sản phẩm; Thông điệp mang tính cảm tính – khơi dậy cảm xúc của người nhận thông điệp, thúc đẩy nảy sinh hành động như tạo cảm giác lo lắng nên đưa đến hành động cần mua hay sử dụng ngay sản phẩm, dịch vụ nào đó; Thông điệp có tính giáo dục – hướng người nhận ý thức được cái thiện, đạo đức mà xã hội công nhận, các thông điệp mang tính giáo dục dễ thấy qua các chiến dịch truyền thông có tính xã hội: bảo vệ môi trường, bảo vệ trẻ em, phụ nữ… 

Về cấu trúc thông điệp: có 2 dạng cấu trúc thông điệp sử dụng trong truyền thông: Thông điệp mở – không đưa ra kết luận rõ ràng, chỉ đưa ra đủ thông tin có liên quan và để công chúng nhận thông điệp tự rút ra kết luận; Thông điệp đóng – đưa ra kết luận rõ ràng cùng với thông tin liên quan để chứng minh.

Về hình thức thông điệp: Hình thức thông điệp là cách thể hiện thông điệp. Tùy theo phương tiện truyền thông được sử dụng sẽ có những hình thức thông điệp khác nhau. Trên ấn phẩm quảng cáo, thông điệp có hình thức gồm: tiêu đề, từ ngữ, hình ảnh, màu sắc…; trên phương tiện truyền thanh gồm: từ ngữ, cách phát âm, tốc độ đọc, nhịp điệu, sức truyền cảm…; trên phương tiện truyền hình hay giao tiếp trực tiếp: có thêm yếu tố khác như ngôn ngữ hình thể, sự biểu cảm qua nét mặt, ngoại hình… 

Về nguồn thông điệp: Thông điệp được gửi đi từ nguồn có tính tin cậy cao sẽ thuyết phục người nhận tốt hơn. 3 yếu tố làm tăng tính tin cậy cho nguồn phát thông điệp là: tính chuyên môn – thể hiện khả năng am hiểu của nguồn; tính đáng tin – khả năng đem lại cảm nhận về sự trung thực và khách quan; tính khả ái – thể hiện sức hấp dẫn công chúng của nguồn.

1.3.5. Chọn lựa kênh và phương tiện truyền thông 

Kênh truyền thông là cái được sử dụng để đưa thông điệp truyền thông đến người nhận. Kênh truyền thông được phân thành kênh trực tiếp – người gửi thông điệp và người nhận thông điệp tiếp xúc hay giao tiếp trực tiếp với nhau và kênh gián tiếp – không có sự tiếp xúc hay giao tiếp trực tiếp giữa người gửi và người nhận. Các kênh truyền thông khác nhau sử dụng phương tiện truyền thông khác nhau. Kênh truyền thông trực tiếp có thể chia ra thành: kênh giới thiệu là kênh sử dụng nhân viên bán hàng của doanh nghiệp tiếp xúc trực tiếp với khách hàng mục tiêu, kênh chuyên viên – là kênh sử dụng chuyên viên tư vấn đưa ra ý kiến độc lập của mình với người tiêu dùng mục tiêu và kênh xã hội – là kênh sử dụng cộng đồng người tiêu dùng biết hoặc có sử dụng sản phẩm, dịch vụ phát biểu ý kiến của bản thân về sản phẩm, dịch vụ với người tiêu dùng mục tiêu. Kênh truyền thông gián tiếp sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng – ấn phẩm truyền thông, phương tiện truyền thông quảng bá (truyền thanh, truyền hình), phương tiện truyền thông điện tử (băng ghi âm, ghi hình, đĩa ghi hình, internet) và phương tiện trưng bày (panô, bảng hiệu, áp phích).

Nhận định: truyền thông trực tiếp đem lại hiệu quả truyền thông cao hơn vì tiếp cận đối tượng truyền thông mục tiêu chính xác hơn, thông điệp được truyền tải đầy đủ và rõ ràng hơn, tốc độ thu nhận phản ứng từ người nhận thông điệp diễn ra ngay lập tức (giúp giảm “nhiễu” trong quá trình truyền thông, rút ngắn thời gian để thông tin đi từ người gửi đến người nhận và ngược lại). 

1.3.6.  Xây dựng ngân sách 

Xây dựng ngân sách giúp xác định được tính khả thi và đo lường được mức hiệu quả của truyền thông. Có nhiều phương pháp để hoạch định ngân sách cho truyền thông: 

Phương pháp căn cứ vào khả năng ngân sách dành cho truyền thông: là phương pháp định ngân sách dựa trên khả năng tài chính trong năm của công ty hoặc do phòng tài chính phân bổ. 

Phương pháp tính tỉ lệ phần trăm theo doanh thu: là phương pháp xác định ngân sách bằng tỉ lệ phần trăm trên doanh thu hoặc giá bán dự kiến. 

Phương pháp cân bằng cạnh tranh: là cách xác định ngân sách cạnh tranh bằng cách chi tiêu cho truyền thông bằng với đối thủ cạnh tranh.

Phương pháp căn cứ vào mục tiêu và nhiệm vụ: là phương pháp xây dựng ngân sách dựa trên cơ sở mục tiêu truyền thông cụ thể để tính toán. 

1.3.7.  Phối hợp các phối thức chiêu thị 

Để truyền đi thông điệp, có thể lựa chọn trong nhiều phương tiện truyền thông khác nhau từ hai kênh truyền thông trực tiếp hoặc gián tiếp để sử dụng. Sự phối hợp các phương tiện truyền thông với nhau được gọi là phối thức chiêu thị. Có 5 phối thức chiêu thị là Quảng cáo, Khuyến mãi, Marketing trực tiếp, Quan hệ công chúng và Bán hàng trực tiếp. 

1.3.7.1. Quảng cáo 

Quảng cáo là hoạt động truyền thông phi trực tiếp giữa người với người, trong đó người muốn truyền thông phải trả tiền cho các phương tiện thông tin đại chúng để thực hiện đưa tin về sản phẩm, dịch vụ, công ty hay ý tưởng.

Quảng cáo có những đặc điểm: Tính đại chúng – thể hiện qua việc Quảng cáo có khả năng lấy được công nhận chính thức của sản phẩm bởi tất cả công chúng; Tính sâu rộng – quảng cáo là một phương tiện truyền thông rất sâu rộng, cho phép người bán nhắc lại một thông điệp nhiều lần và có thể tiếp cận với đa dạng công chúng; Tính biểu cảm – thể hiện qua việc người làm truyền thông có thể chủ động lựa chọn hình ảnh, âm thanh, màu sắc để làm quảng cáo đem nhiều cảm xúc, sinh động và thu hút hơn; Tính chung – quảng cáo chỉ có thể thực hiện độc thoại chứ không phải đối thoại với công chúng.

Do những đặc điểm như: tính đại chúng, tính sâu rộng mà quảng cáo được xem là một phương thức có hiệu quả để tiếp cận tới nhiều người mua phân tán về địa lý với chi phí bình quân thấp cho một lần tiếp xúc. Tuy nhiên, do tính ràng buộc không cao nên Quảng cáo thường khó đưa đối tượng truyền thông đi tới giai đoạn “hành động” là mua sản phẩm. 

Các phương tiện của quảng cáo có thể kể ra như: 

  • Truyền hình, truyền thanh 
  • Quảng cáo ngoài trời 
  • Quảng cáo trực tuyến qua internet  
  • Quảng cáo qua thư bưu điện 
  • Quảng cáo qua sản phẩm in ấn (báo chí, qua ấn phẩm danh bạ doanh nghiệp, tờ rơi, áp phích, pano, băng-rôn, bao bì sản phẩm) 
  • Quảng cáo tại điểm bán bằng cách sử dụng các vật dụng trưng bày (POSM – Point of sales materials) 
  • Quảng cáo qua điện thoại

1.3.7.2.  Khuyến mãi 

Khuyến mãi có nhiều hình thức như: khuyến mãi giảm giá, tặng sản phẩm, tặng quà, phần thưởng… nhưng chúng đều có ba đặc điểm chính: 

Tính truyền thông: thu hút sự chú ý và thường cung cấp thông tin có thể đưa người tiêu dùng đến sản phẩm. 

Tính khuyến khích: Khuyến mãi thường khích lệ hay hỗ trợ một phần giá trị nào đó đối với người tiêu dùng. 

Tính mời chào: trong Khuyến mãi luôn đi kèm lời mời mua sản phẩm (để nhận được khuyến mãi).

Những đặc điểm trên làm khuyến mãi thường xuyên được lựa chọn nếu doanh nghiệp có mục tiêu tăng doanh số bán ngay lập tức. Tuy nhiên, hiệu quả của khuyến mãi thường mang tính ngắn hạn và không có tác dụng tạo sự ưu thích lâu dài với nhãn hiệu. 

1.3.7.3.  Marketing trực tiếp 

Marketing trực tiếp bao gồm một số hình thức như: gửi thư trực tiếp, marketing qua điện thoại, marketing điện tử… Một số đặc điểm khác biệt là: không công khai – thông điệp được gửi đến một người cụ thể và không đến với người khác; theo ý khách hàng – có thể thay đổi thông điệp theo ý của người gửi để tạo sự hấp dẫn với người nhận; cập nhật liên tục – có thể soạn thảo và gửi thông điệp rất nhanh cho người nhận. 

Những đặc điểm của Marketing trực tiếp tạo ra ưu điểm là truyền thông đến đúng công chúng mục tiêu, khả năng tác động lớn hơn so với Quảng cáo, tuy nhiên, chi phí bình quân trên mỗi đối tượng mục tiêu sẽ lớn hơn nhiều. 

1.3.7.4.   Quan hệ công chúng – PR 

Quan hệ công chúng là phương pháp thực hiện xây dựng mối quan hệ tốt với công chúng, cộng đồng và sau đó công chúng tự động nói tốt về sản phẩm, dịch vụ, thương hiệu của doanh nghiệp với người xung quanh. 

Quan hệ công chúng càng trở càng trở thành một phương pháp truyền thông hiệu quả vì những đặc điểm vượt trội như: 

Tạo sự tín nhiệm cao hoặc làm người nhận không cần cảnh giác – người làm truyền thông không trực tiếp truyền thông với công chúng mục tiêu mà để thông điệp truyền thông đi qua “công chúng trung gian”, sau đó mới đến tai của công chúng mục tiêu, bằng cách này, công chúng mục tiêu sẽ không né tránh, nghi ngờ khi nhận thông điệp như khi nhận từ nhân viên bán hàng.

Giới thiệu cụ thể – khi “công chúng trung gian” thực hiện truyền thông, họ có khả năng lôi kéo công chúng mục tiêu vào trao đổi bàn luận, qua đó thông tin đưa đi có thể đa dạng hơn, nhiều hơn, chi tiết hơn… 

1.3.7.5. Bán hàng trực tiếp 

Bán hàng trực tiếp là phương pháp mà nhân viên bán hàng của công ty tiếp cận trực tiếp với khách hàng mục tiêu để giới thiệu và thuyết phục khách hàng đó tiến đến bước cuối của quá trình mua sắm. Bán hàng trực tiếp được xem là công cụ có hiệu quả nhất trong việc thúc đẩy khách hàng mục tiêu tiến đến mua hàng bởi những đặc điểm: Trực diện – nhân viên bán hàng tiếp xúc trực diện với khách hàng mục tiêu, nhờ đó có thể nắm bắt được thái độ, tâm tư, suy nghĩ của khách hàng và có được cách thức cụ thể để điều chỉnh kịp thời; Xây dựng mối quan hệ – việc tiếp xúc trực tiếp giữa nhân viên bán hàng và khách hàng cho phép thiết lập mối quan hệ thân thiết hơn với khách hàng trong lâu dài, giúp ích cho việc thuyết phục khách hàng mua hàng không chỉ trong hiện tại mà cả trong tương lai; Phản ứng đáp lại tức thì – khách hàng khi được nhân viên bán hàng tiếp cận sẽ có phản hồi ngay lập tức, điều này hữu ích để lấy ý kiến khách hàng và cải tiến chất lượng sản phẩm, dịch vụ sớm nhất có thể. 

Những ưu điểm mà bán hàng trực tiếp được đánh đổi bằng chi phí đầu tư cho hoạt động bán hàng trực tiếp không hề nhỏ, do đó, người lập kế hoạch truyền thông cần cân nhắc cẩn thận khi sử dụng. 

2. Chương 2: Giới thiệu về truyền thông trực tuyến 

2.1. Khái niệm về truyền thông trực tuyến (Online Marketing) 

Khi các thiết bị di động kĩ thuật số phát triển cùng với sự ra đời của mạng Internet, trái đất dần trở nên phẳng hơn, thông tin bắt đầu có khả năng đi xa hơn và hoạt động Marketing truyền thống bắt đầu làm quen với số hóa để thực hiện truyền thông ra toàn cầu. Do đó, tiếp thị số (Digital Marketing) vẫn được xem là một nhánh của hoạt động Marketing truyền thống. 

Tiếp thị số diễn ra khi phần lớn hay toàn bộ công tác tiếp thị của công ty sử dụng các kênh kĩ thuật số. Các kênh kĩ thuật số là các kênh tiếp cận, cho phép các nhà tiếp thị có thể giao tiếp liên tục, hai chiều và mang tính cá nhân với từng người dùng.5

Các công cụ của Tiếp thị số bao gồm: truyền thông trực tuyến (Online Marketing), Tiếp thị qua điện thoại (Mobile Marketing) bằng dịch vụ tin nhắn ngắn – Short Messaging Service, tin nhắn đa phương tiện – Multimedia Messaging Service, dịch vụ truy cập Internet qua điện thoại – Mobile Internet, bằng các ứng dụng chạy trên điện thoại – Mobile Apps; Tiếp thị qua truyền thanh – truyền hình (Radio – TV Marketing), Tiếp thị qua các phương tiện kĩ thuật số (eMedia Marketing) bằng các thiết bị điện tử có khả năng hiển thị hình ảnh, âm thanh như bảng quảng cáo điện tử – Digital Billboards và các đoạn phim, âm thanh được cho hiển thị trên những thiết bị đó. 

2.1.1. Truyền thông trực tuyến – Online Marketing là gì? 

Khái niệm: Online Marketing (hay Internet Marketing) có thể được định nghĩa là hoạt động sử dụng Internet và các công nghệ kĩ thuật số (mạng không dây – wireless, vệ tinh – satellite) có liên quan để thực hiện truyền thông Marketing. 

Truyền thông trực tuyến được thực hiện qua những công cụ như: 

Website 

Thư điện tử – Email 

Công cụ tìm kiếm trên Internet – Search Engine 

Quảng cáo trực tuyến 

Mạng xã hội – Social Media 

2.1.2.  Đặc điểm và xu hướng của truyền thông trực tuyến 

Khác với các hình thức truyền thông trực tuyến, truyền thông truyền thống có những đặc điểm tạo nên những ưu điểm. Những đặc điểm đó bao gồm: 

Khả năng tiếp cận dữ liệu cá nhân của người tiêu dùng: trên Internet, mọi thông tin cá nhân của người dùng (email, số điện thoại, địa chỉ, tài khoản ngân hàng…) đều có khả năng được khai thác bởi nhiều người dùng khác nhau, gồm cả người làm truyền thông. Những thông tin này cho phép việc tiếp thị trở nên tập trung và phù hợp hơn với từng người dùng. Tuy nhiên, điều này cũng gây nên căng thẳng giữa người làm truyền thông và người tiêu dùng về các vấn đề xâm phạm dữ liệu cá nhân. 

Khả năng tương tác trực tiếp và cá nhân hóa: email, điện thoại, mạng xã hội… là những hình thức giúp người làm truyền thông tương tác với người dùng cá nhân. Việc tương tác với từng cá nhân giúp gửi đi những thông điệp riêng biệt tới từng cá nhân khác nhau.

Khả năng theo dõi chính xác mức độ tiếp cận của thông điệp với người dùng: những hành động của cá nhân người dùng, mỗi cú nhấp chuột, mỗi lần dừng lại hay tương tác với kênh kỹ thuật số đều có thể được theo dõi và thống kê.

Khả năng phản hồi trực tiếp: với tiếp thị trực tiếp, người dùng không chỉ nhận thông tin từ phía người truyền thông mà còn có thể phản hồi lại thông tin đó ngay lập tức bằng một email trả lời hoặc một bình luận (comment) qua trang web, mạng xã hội… 

Khả năng kết nối của hệ thống các phương tiện truyền thông trực tuyến: các thiết bị truyền thông khác nhau như máy tính, điện thoại, bảng quảng cáo số… đều có thể kết nối với nhau thông qua Internet. Do đó, một thông tin có thể xuất hiện trên tất cả các phương tiện và đến với tất cả cá nhân có sử dụng. 

Thông tin có thể được tạo ra từ chính người dùng: người dùng không bị giới hạn buộc phải xem một thông tin mà họ không thích như trước đây, họ được cho phép chia sẻ ý kiến, suy nghĩ qua những bài viết, ý kiến cá nhân thông qua trang web, tài khoản mạng xã hội của cá nhân họ. Khi những bài viết, ý kiến cá nhân được xem bởi nhiều người dùng khác nữa thì chủ nhân của những thông tin đó lại trở thành người truyền đi thông tin. Đến đây, ranh giới giữa người dùng và người làm truyền thông trở nên mờ nhạt. 

Khả năng tiếp cận với mọi thông tin thông qua công cụ tìm kiếm: đặc điểm này chính là mấu chốt khiến cho mọi thông tin về sản phẩm, dịch vụ, nhà sản xuất, thương hiệu… đều có thể được tìm thấy và tiếp cận bởi người dùng với cơ hội ngang bằng nhau. 

Với những đặc điểm kể trên, tiếp thị số đã chứng tỏ được tính ưu việt của nó và xu hướng truyền thông mới đã được khẳng định: 1 – truyền thông trực tuyến nói chung và truyền thông số sẽ đóng vai trò nền tảng của truyền thông; 2 – nội dung do người dùng tạo ra sẽ trở nên phổ biến, đặc biệt là các nội dung video, cái có thể được xem trên tất cả các thiết bị số; 3 – khi các kênh và nội dung trở nên phổ biến, thế giới thực và ảo sẽ hòa vào nhau và người dùng sẽ thường xuyên qua lại giữa hai thế giới đó. Những xu hướng trên của tiếp thị số có thể được gọi là giai đoạn dịch chuyển từ truyền thông đại chúng sang truyền thông cá nhân hóa, với khả năng thu hút sự tham gia của người dùng nhiều hơn. 

2.1.3.  Đối tượng truyền thông của truyền thông trực tuyến 

Đối tượng của truyền thông trực tuyến cũng nằm trong nhóm công chúng mục tiêu của truyền thông (đã được đề cập ở chương trước). Tuy nhiên, đối tượng của truyền thông trực tuyến là những công chúng mục tiêu có khả năng tiếp cận với các phương tiện truyền thông trực tuyến. 

Sự khác biệt giữa công chúng mục tiêu của truyền thông (sau đây gọi chung là “công chúng”) và đối tượng truyền thông của truyền thông trực tuyến (sau đây gọi chung là “người dùng”) được thể hiện qua những điểm sau: 

Người dùng không còn là những công chúng thụ động của truyền thông: Họ có xu hướng tham gia vào truyền thông qua các phương tiện trực tuyến để bày tỏ quan điểm một cách chủ động như: so sánh, bình phẩm, đôi khi chỉ trích các sản phẩm, dịch vụ, thông tin mà họ biết được. 

Người dùng có khả năng tạo nên nội dung truyền thông: Điều này thể hiện qua phần lớn nội dung truyền thông hiện nay do chính người dùng tạo nên, người làm truyền thông chỉ có nhiệm vụ định hướng cho nội dung. 

Phương thức tiếp cận cũng thay đổi khi công chúng trở thành người dùng: Phương thức tiếp cận là những thiết bị di động cá nhân và người dùng có quyền lựa chọn phương tiện, thông tin, cách thức để xem. Tất cả đều do sự chủ động của người dùng. 

2.2. Phân tích các công cụ thực hiện của truyền thông số 

Như đã trình bày ở trên, truyền thông trực tuyến được thực hiện thông qua nhiều công cụ kĩ thuật số. Trong phần này, các công cụ được giới thiệu ở trên sẽ được phân tích chi tiết hơn về cách thức hoạt động và cách để tối ưu hóa hoạt động. 

2.2.1.  Website và các hoạt động trên web 

Website được xem là trọng tâm của truyền thông trực tuyến bởi đây là nơi mà người làm truyền thông đặt nền tảng mọi thông tin cơ bản và chính thống của hoạt động truyền thông. Từ khi ra đời đến nay, website đã chính thức trải qua hai thế hệ là Web 1.0 và Web 2.0. “Thế hệ Web 1.0 thường được gọi là web tập trung quyền lực” 7, bởi trang web được thiết kế và kiểm soát hoàn toàn bởi người sở hữu trang web (ở đây có thể là người làm truyền thông), người dùng không có khả năng tác động đến nội dung cũng như thiết kế của trang web đó. “Thế hệ Web 2.0 được gọi là web chia sẻ quyền lực”8 vì các web 2.0 chỉ đơn thuần cung cấp những nội dung cơ bản mà người dùng yêu cầu và người dùng có quyền phát triển nội dung lên theo cách thức của họ.

Sự khác biệt giữa Web 1.0 và 2.0 là ở ba phạm trù: 

Sự tách biệt về trình bày và dữ liệu9: Web 2.0 được thiết kế để có thể thích nghi với tất cả các thiết bị số khác nhau và người dùng sẽ trình bày dữ liệu về nội dung và hình thức trang web đó theo ý của mình (trong khuôn khổ khả năng cho phép của trang web). 

Sự đồng tạo nội dung: ở các trang Web 2.0, nội dung của trang web có thể được tạo ra bởi hàng triệu người dùng một lúc và tất cả nội dung đó sẽ được sử dụng để phục vụ trở lại cho người dùng. Trang web www.ebay.com là một ví dụ điển hình cho sự đồng tạo nội dung, những người dùng đưa lên các sản phẩm họ muốn bán tạo nên cộng đồng người bán, những người dùng khác muốn tìm thấy sản phẩm để mua tạo nên cộng đồng người mua và việc trao đổi mua bán chính là nội dung của trang Ebay. 

Mạng xã hội: sự phát triển quan trọng nhất của Web 2.0 là tính xã hội. Tính xã hội của Web 2.0 thu hút người dùng đến với thế giới ảo nhiều hơn và coi thế giới ảo như một phần không thể thiếu của cuộc sống. Mọi nhu cầu trong thế giới ảo đều phản ánh nhu cầu trong thế giới thực của người dùng và người làm truyền thông có thể nắm bắt nhu cầu đó. 

Thực tế, thế hệ Web 3.0 đang trong giai đoạn ra đời, tuy nhiên bài viết này chỉ dừng lại phân tích đến Web 2.0. 

Tác dụng của website trong hoạt động truyền thông: 

Website 1.0 và 2.0 có những tác động nhất định đối hoạt động tiếp thị như: [1] Cung cấp thông tin – website là trung tâm cung cấp những thông tin về công ty, thương hiệu, sản phẩm, dịch vụ đến với người dùng trên toàn thế giới trong bất kể thời điểm nào; [2] Tiếp nhận phản hồi – người dùng có thể đặt hàng, mua hàng trực tuyến hay gửi phản hồi về sản phẩm, dịch vụ tại ngay trang web; [3] Tạo môi trường cho hoạt động tiếp thị hỗn hợp – các loại hình truyền thông trực tuyến khác đều không thể tồn tại nếu không có trang web. 

Tối ưu hóa hoạt động của website: 

Để tạo nên một website cần chú ý đến ba vấn đề: thứ nhất – thiết kế của trang web, thứ hai – khả năng hiển thị trên các công cụ tìm kiếm; và thứ ba – khả năng sử dụng của trang web.12 Cả ba vấn đề đều có tầm quan trọng nhất định để website trở thành kênh truyền thông hiệu quả

3 vấn đề để tối ưu hóa hoạt động của website

Xét về tính hữu dụng: 

Tính hữu dụng của một trang web được xem xét dựa trên các tiêu chuẩn trình bày thông thường mà bất kì trang web nào cũng nên tuân theo để giúp người dùng dễ sử dụng. Các tiêu chuẩn trình bày là: 

Trình bày theo thông lệ chuẩn: thông lệ chuẩn đưa ra những hình thức trình bày dựa trên những quy tắc sắp xếp quen thuộc với phần lớn người dùng. Ví dụ: vị trí đặt logo, cách đặt khung tìm kiếm, mục lục… 

Tiêu chuẩn về thông tin: tiêu chuẩn về thông tin đưa ra những yêu cầu với những thông tin phải có, như: thông tin cơ bản giới thiệu công ty, trang web, cách thức liên hệ, bản đồ hướng dẫn thông tin trên website (sitemap)… 

Tiêu chuẩn về khả năng tiếp cận: tiêu chuẩn này quy định những thông số kĩ thuật của website để website đó có thể xuất hiện được trên tất cả chuẩn thiết bị số khác nhau. Ví dụ như: tiêu chuẩn về độ phân giải của trang web, ngôn ngữ lập trình…

Tiêu chuẩn về nội dung: tiêu chuẩn này đòi hỏi những yếu tố về cách trình bày của nội dung để thông tin được đăng tải xuất hiện hợp lý, rõ ràng và có tác động đến người dùng hiệu quả nhất. Một số tiêu chuẩn về trình bày văn bản có thể là: cỡ chữ, kiểu chữ, cách phân đoạn, đánh dấu đề mục… 

Xét về khả năng hiển thị trên các công cụ tìm kiếm: 

Việc trang web có khả năng xuất hiện trên công cụ tìm kiếm rất quan trọng đối với hoạt động truyền thông bằng website. Nếu trang web không hiện lên trong danh sách của các công cụ tìm kiếm thì người dùng sẽ không thể biết đến sự tồn tại của trang web đó, cũng như công ty, thương hiệu, sản phẩm hoặc dịch vụ được giới thiệu trên trang web, trừ khi người dùng đó đã biết về trang web đó trước đây. Do đó, việc tối ưu hóa khả năng xuất hiện của địa chỉ trang web trên các công cụ tìm kiếm là một trong những công việc hàng đầu của người làm truyền thông trực tuyến.  

Các công cụ tìm kiếm sẽ nhận diện nội dung tìm kiếm thông qua: URLs, alt tags, title tag và meta data. 

URLs (Universal resource locator): là địa chỉ một nội dung từ trang web nào đó trên Internet. Việc phải làm với URLs là tạo cho nó sự rõ ràng và có ý nghĩa để công cụ tìm kiếm có thể đọc URLs và tìm ra nội dung có liên quan với từ khóa.

Minh họa cho Urls đã được hiệu chỉnh

Alt tags: là tên (lưu trong máy tính) của hình ảnh khi nó được tải lên một trang web nào đó. Ví dụ: khi một tấm ảnh về chủ đề “Hoàng hôn” được lưu trong máy với tên image1 thì khi tải nó lên trang web, tấm ảnh đó sẽ có tên image1 và các công cụ tìm kiếm sẽ “hiểu” tấm ảnh đó tên là image1, tức là dù với từ khóa “hoàng hôn” cũng không thể tìm ra tấm ảnh đó. 

Meta tags: là khu vực trong mã lập trình mà người phát triển web điền nội dung vào và để nội dung đó xuất hiện trên trang web. Để thấy meta tags, cần nhấp phải chuột và chọn “view source” để xem được tên của meta tags trong phần <meta name=

Hiển thị của Meta tags khi lập trình

Phần nội dung nằm trong dấu nháy phía sau <meta name= chính là meta tags. Công cụ tìm kiếm có khả năng tìm thấy đoạn nội dung này thông qua từ khóa trùng với tên meta tags. 

Title attribute: là tên phân mục mà nội dung nào đó được xếp vào. Khi công cụ tìm kiếm sử dụng từ khóa đúng với tên của phân mục, nội dung đó sẽ hiển thị trên công cụ tìm kiếm.

Minh họa về title attribute

Title tag: là tiêu đề của một trang hoặc một bài viết và công cụ tìm kiếm có thể nhận diện nội dung nếu trùng từ khóa.

Minh họa về title tag

Một trang web phải có thiết kế phù hợp với mục tiêu truyền thông, đặc thù hay tính cách của thương hiệu, công ty, hoặc sản phẩm, dịch vụ mà công ty đó cung cấp. Ví dụ: mục tiêu của trang web là để bán hàng hoặc cung cấp thông tin về sản phẩm, dịch vụ, cung cấp tài liệu… 

Ngoài ra, thiết kế của trang web còn bao gồm những vấn đề về ngôn ngữ lập trình của trang web, nhưng do phần này thiên về kĩ thuật nên sẽ không được bàn đến trong chuyên đề này.

2.2.2. Tiếp thị qua công cụ tìm kiếm – Search Engine Optimisation và Search Engine Marketing (SEO và SEM)

Công cụ tìm kiếm trực tuyến là dịch vụ trực tuyến hoặc một phần mềm tìm kiếm được cung cấp bởi một bên thứ ba (bên cạnh người làm truyền thông và người dùng Internet) nhằm tìm ra các thông tin hoặc các trang web trên mạng Internet dựa vào từ khóa mà người dùng đưa vào. 

Hoạt động truyền thông qua công cụ tìm kiếm bao gồm hai hoạt động: một là tối ưu hóa công cụ tìm kiếm – nghĩa là tối ưu hóa thông tin hoạt động tìm kiếm tự nhiên (SEO) và hai là quảng cáo phải trả tiền – được hiểu là tiếp thị bằng công cụ tìm kiếm (SEM).

Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm: khi người dùng nhập một từ khóa, công cụ tìm kiếm trả về kết quả (nằm bên trái màn hình). Do người dùng chỉ quan tâm đến những kết quả xuất hiện đầu tiên, người làm tiếp thị phải tìm cách cạnh tranh với các trang web khác để trang web hoặc thông tin của họ xuất hiện trong những kết quả đầu tiên. Việc làm đó gọi là tối ưu hóa hoạt động tìm kiếm tự nhiên hoặc tối ưu hóa công cụ tìm kiếm. 

Quảng cáo phải trả tiền: việc người làm tiếp thị trả tiền cho nhà cung ứng dịch vụ tìm kiếm để trang web hoặc thông tin của họ xuất hiện bên phải màn hình hoặc ở trên đầu trang (trong khu vực được đánh dấu riêng biệt) được gọi là quảng cáo phải trả tiền trên công cụ tìm kiếm.

Minh họa kết quả trả về của SEO và SEM

Tác động của công cụ tìm kiếm đến truyền thông trực tuyến: 

Người làm truyền thông trực tuyến cần tối ưu hóa hoạt động tìm kiếm (SEO) và quảng cáo trả tiền cho công cụ tìm kiếm trực tuyến (SEM) vì:  

Công cụ tìm kiếm đóng vai trò định hướng mục tiêu tìm kiếm của người dùng. Người dùng Internet thường không biết chính xác thông tin cần dùng nằm ở đâu và trên trang web nào, vì vậy, công cụ tìm kiếm luôn được sử dụng để giúp người dùng chỉ ra thông tin liên quan dựa trên từ khóa mà người dùng đưa ra.

Công cụ tìm kiếm trở thành công cụ xếp hạng độ tín nhiệm đối với trang web hoặc nội dung trong suy nghĩ của người dùng. Thứ tự xuất hiện trên danh mục kết quả tìm kiếm phụ thuộc vào mức độ truy cập của các trang web hoặc số lượng bài viết có liên quan đến nội dung. Vì vậy, người dùng thường dựa vào tiêu chí đó để đánh giá độ tin cậy của trang web hoặc nội dung, đưa đến những kết quả đầu tiên xuất hiện trong kết quả tìm kiếm có thể trở thành “nhận diện ưu tiên” trong tâm trí người dùng. 

Hai tác động trên có nghĩa rằng: hoạt động của truyền thông trực tuyến như phát triển website, quảng cáo trực tuyến… sẽ trở nên vô nghĩa nếu công cụ tìm kiếm không tìm thấy thông tin liên quan với từ khóa; hoặc nếu công cụ tìm kiếm tìm ra nhưng ở vị trí thấp thì trang web hoặc thông tin đó sẽ bị người dùng lướt qua hoặc ít tin cậy hơn. 

Tối ưu hóa các công cụ tìm kiếm: 

Với những lý do trên, người làm truyền thông trực tuyến cần chú trọng đến việc tối ưu hóa các công cụ tìm kiếm. Việc tối ưu hóa có thể được thực hiện đối với trang web bằng những phương thức đã được đề cập trong phần Tối ưu hóa hoạt động của website – xét về khả năng hiển thị của trang web trong công cụ tìm kiếm. Ngoài ra, việc tối ưu hóa công cụ tìm kiếm còn có thể thực hiện thông qua một số phương thức khác như: 

Tối ưu hóa cụm từ khóa: ở đây nhấn mạnh đến việc lựa chọn cụm từ khóa (không phải chỉ đơn thuần là từ khóa). Người làm truyền thông trực tuyến cần liệt kê ra tất cả các từ có thể liên quan và phân bố những cụm từ đó trong phần công cụ tìm kiếm có thể tiếp cận được của website.

Tối đa hóa tần suất xuất hiện của từ khóa: các công cụ tìm kiếm sử dụng từ khóa để thực hiện tìm kiếm nội dung và xếp hạng cao nội dung có tần suất từ khóa xuất hiện nhiều nhất. Người làm truyền thông trực tuyến cần chủ động cho phép từ khóa xuất hiện nhiều (một cách hợp lý) để trang web hoặc nội dung được xếp ở những vị trí đầu tiên trong danh mục tìm kiếm.

Tối đa hóa số lượng, chất lượng và phạm vi của những đường link tới mỗi trang và toàn bộ website sở hữu. Những đường link dẫn đến website hoặc trang trong website sẽ sở hữu những cụm từ khóa (như đã hướng dẫn trong phần Tối ưu hóa hoạt động của trang web). Những đường link này xuất hiện càng nhiều, khả năng người dùng biết đến website càng cao. 

2.2.3.  Tiếp thị bằng thư điện tử – Email Marketing 

Khái niệm: Email là một công cụ của hoạt động truyền thông trực tuyến. Tiếp thị bằng thư điện tử là một hình thức gửi thư trực tiếp đến công chúng mục tiêu qua Internet và người nhận có thể nhận thư bằng các thiết bị kĩ thuật số có kết nối Internet. ưu điểm nổi bật của tiếp thị bằng thư điện tử là chi phí thấp so với nhiều hình thức khác, tốc độ truyền tin nhanh chóng, dễ dàng mở rộng phạm vi tiếp thị và có thể chủ động quản lý hay thay đổi nội dung thông điệp bất cứ lúc nào.

Tác dụng của Thư điện tử trong truyền thông: 

Thư điện tử có thể giúp người làm truyền thông thực hiện nhiều hoạt động như: 

Thu thập thông tin – bằng cách gửi những bản khảo sát ngắn qua thư điện tử để thu thập thông tin, ý kiến của khách hàng; [2] Hỗ trợ hoạt động bán hàng – bằng cách gửi chào hàng, thông tin giới thiệu sản phẩm qua thư điện tử; [3] Hỗ trợ hoạt động Quan hệ công chúng – bằng những thư điện tử mời tham gia sự kiện, thư chúc mừng hoặc thăm hỏi khách hàng. 

Tuy nhiên, lạm dụng tiếp thị bằng thư điện tử đã tạo nên Thư rác – Spam mail (thư mà người dùng đánh giá không có ích). Người dùng có thể sử dụng công cụ chặn thư rác và vô tình chặn cả những thứ thật sự có ích với họ. 

Tối ưu hóa hiệu quả của tiếp thị bằng thư điện tử: 

Để tiếp thị bằng thư điện tử đạt được hiệu quả cần quan tâm đến: 

Tạo niềm tin với người dùng: bằng cách: 1 – chỉ gửi thư điện tử khi được cho phép hoặc có yêu cầu từ người dùng; 2 – chắc chắn đem lại lợi ích rõ  

ràng cho người nhận; 3 – hiện diện thích hợp và đáng ghi nhớ; 4 – không gửi thư quá thường xuyên. 

Theo dõi thư điện tử để nhận thấy hiệu quả: có nhiều công cụ cho phép người gửi thư biết được tỉ lệ thư được mở ra và có nhiều thủ thuật chính thống cho biết người dùng làm gì với thư đó. Người làm truyền thông có thể theo dõi để xác định hiệu quả của thư được gửi, thái độ đón nhận của người nhận thư và xem xét có nên gửi tiếp tục hay không.

Tự xây dựng danh sách người nhận thay vì mua danh sách: người nhận trong danh sách tự xây dựng sẽ có thái độ chờ đón thư tốt hơn so với người nhận ngẫu nhiên. 

Nâng cao tính khoa học và chuyên nghiệp trong trình bày thư điện tử: bằng cách tự trải nghiệm các thư điện tử của các nhà cung cấp khác nhau để hiểu rõ cách thức trình bày của từng hộp thư; sử dụng địa chỉ mail có vẻ chuyên nghiệp; đặt tiêu đề thư cụ thể và rõ ràng; nội dung mail nên rõ ràng và ngắn gọn; thông tin người gửi và nguồn tham khảo nên được đính kèm để tăng độ tin cậy với người nhận; gửi thử nghiệm bằng một danh sách nhỏ để kiểm tra lỗi có thể có và xem xét phản ứng của người nhận. 

2.2.4.  Tiếp thị lan truyền – Viral Marketing 

Khái niệm: Tiếp thị lan truyền là thuyết phục khách hàng tự chuyển những thông điệp hoặc sản phẩm của nhà sản xuất đến người khác. Tiếp thị lan truyền đưa ra một số thứ – thường là miễn phí và “ngầm” chứa đựng thông điệp truyền thông – cho người dùng và người dùng sau khi nhận thì muốn chia sẻ với những người dùng khác. 18 Sự đặc biệt của tiếp thị lan truyền ở chỗ khách hàng vừa là người nhận thông điệp vừa là người truyền thông điệp đến những người dùng khác

Tối ưu hóa hiệu quả của tiếp thị lan truyền: 

Một hoạt động tiếp thị lan truyền được gọi là thành công khi người dùng nhận được cái mà người làm truyền thông gửi và ngay lập tức chia sẻ cái đó cho những người dùng khác, người dùng khác cũng thích thú và lặp lại quá trình chia sẻ thông tin đó cho những người dùng xa hơn. Tuy nhiên, không dễ điều khiển người dùng truyền đi một thông điệp nào đó, người dùng có chia sẻ thông tin đi hay không là tùy thuộc vào thái độ của người dùng đối với thông tin được nhận. Để người dùng cảm thấy hứng thú và muốn chia sẻ thì kế hoạch tiếp thị lan truyền phải đảm bảo: 

Nội dung truyền thông hấp dẫn: Một nội dung có tính độc đáo (trong lĩnh vực nào đó), có tính giải trí cao hoặc chứa thông tin hữu ích có khuynh hướng được lan truyền cao hơn. Mỗi nhóm người dùng nhất định cảm thấy hứng thú với một hoặc nhiều điểm nhấn nhất định, người làm truyền thông cần phải xác định được điểm gây hứng thú với nhóm người dùng đó.

Kết hợp chức năng vào cùng sự hấp dẫn của nội dung: nội dung mang tính giải trí dù hấp dẫn đến đâu cũng sẽ bị lãng quên, vì vậy, nếu nội dung có tính hữu ích, người dùng có thể lưu trữ nó lại để sử dụng nhiều lần hơn và nội dung được ghi nhớ lâu hơn. 

Tạo cho tiếp thị lan truyền hình thức thân thiện: nội dung của tiếp thị lan truyền có thể được thể hiện định dạng video, clip, flash, bài hát, hình ảnh, từ ngữ… hoặc bất cứ thể thức nào. Định dạng nội dung đó càng đơn giản, càng dễ thích ứng với thiết bị truyền thông thì càng dễ được lan truyền. 

Khuyến khích người dùng lan truyền nội dung: ngoài chuẩn bị cho nội dung thì người làm truyền thông cũng cần phải tác động vào người dùng để khuyến khích họ lan truyền nội dung. 

Sử dụng những kênh truyền thông có điều kiện lan truyền thuận lợi: những kênh cho phép đưa nội dung muốn lan truyền vào dễ dàng, có đông người dùng tham gia sử dụng, hỗ trợ nhiều định dạng,… được xem là những kênh truyền thuận lợi cho hoạt động tiếp thị lan truyền. 

Hiệu quả của tiếp thị lan truyền được đánh giá thông qua số lần lan truyền của nội dung. Tuy nhiên, hiệu quả lan truyền có thể khác với hiệu quả truyền thông, điều này tùy thuộc vào phản ứng của người nhận là tích cực hay tiêu cực.

2.2.5.  Quảng cáo hiển thị trực tuyến – Online Advertising 

Khái niệm: tương tự như quảng cáo truyền thống, quảng cáo trực tuyến là công cụ để truyền đi một thông điệp phục vụ mục tiêu tiếp thị. Khác với quảng cáo truyền thống, quảng cáo trực tuyến không bị giới hạn về vị trí địa lý hoặc thời gian hiển thị cũng như khả năng tương tác với người dùng. Ngoài ra, ở những quảng cáo trực tuyến, người làm tiếp thị có thể đặt vào đó những liên kết ẩn (hyberlink) để đưa người dùng tiếp cận với website chính thức.19

Các hình thức quảng cáo trực tuyến và các dịch vụ đi kèm: 

Quảng cáo trực tuyến ngày càng khai thác nhiều hình thức thể hiện: Hình ảnh động (Flash), đoạn âm thanh – đoạn video, banner (bao gồm banner cố định, banner trôi với nội dung hiển thị thường là hình ảnh với đuôi GIFs hoặc JPEGs, hay cũng có thể là dạng Flash, video, JavaScript…), button hoặc banner đẩy nội dung (là một nút có thể mở rộng và hiển thị thông tin quảng cáo được khi nhấp hoặc rê chuột vào, quảng cáo hiển thị thường được đưa vào dưới dạng video), pop-up (có dạng là một tab mới hoặc cửa sổ mới của trình duyệt web được mở riêng ra khi được kích hoạt, bên cạnh pop-up còn có thể có pop-under được xuất hiện ở dạng cửa số mới hiện ra bên dưới cửa sổ chính), quảng cáo qua bản đồ – Map Advertising (là một kiểu quảng cáo được đặt vào một địa điểm trong bản đồ trực tuyến, ví dụ: Google Map) 

Dịch vụ đi kèm: người làm tiếp thị muốn sử dụng truyền thông trực tuyến có thể sử dụng Dịch vụ quảng cáo trực tuyến – Ad Servers và hệ thống quảng cáo trực tuyến. 

Dịch vụ quảng cáo trực tuyến là dịch vụ cho thuê các vị trí trống trên các trang web đang hoạt động để đặt các mẫu quảng cáo. Thông thường, các nhà cung ứng dịch vụ quảng cáo trực tuyến sẽ chịu trách nhiệm tìm kiếm các trang web thích hợp, mua quyền đặt quảng cáo tại các vị trí trống, phân bổ vị trí đặt quảng cáo trên trang web và làm các hoạt động truyền thông cần thiết để tăng cường hiệu quả cho quảng cáo được đặt ở trang web đó; người làm truyền thông liên hệ với nhà cung ứng dịch vụ, lựa chọn gói vị trí đặt quảng cáo và theo dõi hiệu quả đạt được của quảng cáo được đặt.

Hệ thống quảng cáo trực tuyến là hệ thống tập hợp các trang web có thể đặt quảng cáo, sở hữu hoặc đại diện bởi các nhà cung ứng dịch vụ quảng cáo trực tuyến – Ad servers. Khi người làm truyền thông đồng ý sử dụng hệ thống, quảng cáo của họ được hệ thống phân phối đến những trang web thích hợp, sau đó theo dõi, báo cáo cho người làm truyền thông. Có một nhà cung ứng tiêu biểu cho hệ thống này, đó là Google với hệ thống Google Adsense. 

Ghi chú: Google Adsense cho phép bất kì website nào (đáp ứng tiêu chuẩn kiểm tra của Google) cũng có thể nhận được quảng cáo theo ngữ cảnh. Những quảng cáo này xuất hiện trong các website được thiết kế bởi các chủ website trông rất giống quảng cáo Adwords trên Google. Nhà quảng cáo sẽ trả chi phí khi có người dùng nhấp chuột vào quảng cáo và chi phí này được chia cho Google lẫn website chạy quảng cáo. Google sẽ cố gắng đưa những quảng cáo phù hợp với nội dung của website. Cả trang web và các nhà quảng cáo có thể chỉnh sửa lại các quảng cáo hoăc trang quảng cáo mà họ không chấp nhận. 

Tối ưu hóa hoạt động quảng cáo trực tuyến: 

Để hoạt động quảng cáo trực tuyến hoạt động hiệu quả cần có cách để sử dụng hợp lý chúng. 

Đảm bảo nội dung và hình thức quảng cáo thân thiện với người dùng và không gây ra phiền hà. Tính thân thiện đòi hỏi những quảng cáo dạng banner, button… nên có những nút chức năng để người dùng sử dụng điều khiển quảng cáo theo ý họ: yên lặng (mute), tạm dừng (pause), dừng (stop)

và đóng (close). Những quảng cáo pop-up, pop-under, flash nên được xuất hiện một cách ít gây phiền hà nhất cho người dùng. Tốc độ khởi động và chạy của các quảng cáo flash, video cũng thể hiện tính thân thiện.

Nội dung của quảng cáo và trang web đặt quảng cáo cần có sự liên quan để khả năng tiếp cận đúng người dùng mục tiêu cao hơn. 

Kết hợp sử dụng các công cụ tìm kiếm hoạt động tự nhiên và quảng cáo phải trả tiền. Nếu quảng cáo phải trả tiền có tác dụng tác động lên ý thức của khách hàng, tạo sự tập trung và ghi nhớ về kết quả đầu tiên của sự tìm kiếm thì kết quả của công cụ tìm kiếm hoạt động tự nhiên sẽ tạo củng cố và tạo sự tin cậy cao hơn đối với người dùng, đồng thời tiết kiệm chi phí.

Tối ưu hóa từ khóa với những thông điệp có trong quảng cáo. Công cụ tìm kiếm không thể “hiểu” nội dung trong flash, video hoặc banner. Vì vậy, việc gắn thẻ nhận diện (tag) hoặc đặt tiêu đề dạng văn bản cho các quảng cáo giúp cho quảng cáo đó được “hiểu” và tìm thấy bởi công cụ tìm kiếm. 

2.2.6.  Truyền thông xã hội – Social Media 

Khái niệm: Truyền thông xã hội là hình thức ứng dụng thế hệ Web 2.0, tạo ra các trang web có tính mở, được người dùng chủ động thiết kế nội dung (có thể cả hình thức) dựa trên nền tảng cơ bản được thiết kế và cung cấp bởi trang web chủ.

3. Dowload chuyên đề tốt nghiệp marketing online miễn phí

Để xem toàn bộ chuyên đề tốt nghiệp về marketing online, bạn có thể tải về tại đây