Mẫu chuyên đề tốt nghiệp luật hay và ấn tượng nhất

Bạn đang cần tham khảo một vài tài liệu về chuyên đề tốt nghiệp luật? Bạn không biết bắt đầu như thế nào nhưng lại muốn hoàn thiện chuyên đề của mình trong thời gian sớm nhất? Hãy xem ngay mẫu chuyên đề tốt nghiệp mà chuyendetotnghiep.net chia sẻ trong bài viết này.

Mẫu chuyên đề tốt nghiệp luật hay và ấn tượng nhất

Đề tài: Luật thuế thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ 

1.1. Khái niệm thuế 

Thuế gắn liền với sự tồn tại, phát triển của Nhà nước và là một công cụ quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào cũng sử dụng để thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình. Tùy thuộc vào bản chất của Nhà nước và cách thức Nhà nước sử dụng, các nhà kinh tế có nhiều quan điểm về thuế khác nhau. 

>>> Xem thêm: Mẫu chuyên đề tốt nghiệp thẻ tín dụng

Adam Smith (Dadaurop & FI. Poliauskia, 1976, trang 35) quan niệm về thuế như sau: “Các công dân của mỗi nước phải đóng góp cho Chính phủ theo tỷ lệ khả năng của mỗi người, nghĩa là tỷ lệ với lợi tức mà họ được thụ hưởng do sự bảo vệ của Nhà nước”. Theo đó, Adam Smith khẳng định tính chất bắt buộc các công dân phải nộp thuế cho Nhà nước theo tỷ lệ thu nhập của mỗi người. 

Karl Marx (Dadaurop & FI. Poliauskia, 1976, trang 37) cho rằng thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy Nhà nước, là “khoản đóng góp nghĩa vụ cần thiết để nuôi dưỡng Nhà nước pháp quyền, thuế là nguồn sống… đối với Nhà nước hành pháp. Chính phủ mạnh và thuế cao là hai khái niệm đồng nhất”. Như vậy, Karl Marx quan niệm rằng thuế gắn liền với Nhà nước và đảm bảo sự tồn tại của bộ máy Nhà nước. 

Paul A. Samuelson và William D. Nordhaus (2004, trang 56) lại khẳng định rằng bên cạnh các nghĩa vụ người dân phải thực hiện đối với Nhà nước thì “thuế là một dạng cưỡng bức quan trọng. Tất cả mọi người đều phải tuân theo Luật thuế. Sự thật là toàn bộ công dân tự mình đặt gánh nặng thuế lên mình và mỗi công dân cũng được hưởng phần hàng công cộng do Chính phủ cung cấp”.

Theo định nghĩa về thuế của Black’s Law Dictionary (2003, trang 1307) thì “thuế là gánh nặng tài chính đánh lên các cá nhân hay người sở hữu tài sản để hỗ trợ nhà nước (…) một khoản do chính quyền lập pháp buộc người dân phải nộp. Thuế “không phải là một khoản tiền đóng góp tự nguyện hay hiến tặng, mà là một đóng góp bắt buộc, do cơ quan lập pháp quy định”.  

Sở thuế Hoa Kỳ (Internal Revenue Service) đưa ra định nghĩa về thuế trong Rev. Rule 77.29 như sau: “Thuế là khoản đóng góp bắt buộc do chính quyền lập pháp quy định. Thuế không phải là khoản chi trả cho một đặc quyền hay dịch vụ nhất định nào và đây là điểm phân biệt thuế với các khoản thu khác nhằm những mục đích cụ thể của chính phủ hay cơ quan quyền lực khác”. 

Từ những quan điểm nêu trên, chúng ta có thể kết luận: 

Thuế là hình thức đóng góp theo nghĩa vụ do Luật quy định cho các tổ chức và cá nhân trong xã hội nộp cho Nhà nước bằng một phần thu nhập của mình nhằm tập trung một bộ phận của cải xã hội vào Ngân sách Nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước thích ứng với từng giai đoạn phát triển của đời sống kinh tế xã hội.

Như vậy, thuế và Nhà nước là hai khái niệm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bản chất giai cấp của Nhà nước quy định bản chất của thuế. 

1.2. Đặc điểm của thuế 

Thuế có một số đặc điểm cơ bản như sau: 

Thứ nhất, thuế là một khoản thu không bồi hoàn, không mang tính hoàn trả trực tiếp. Thuế thể hiện sự chuyển giao1 các nguồn lực tài chính từ khu vực tư nhân sang khu vực công (Nhà nước). Tuy nhiên, người nộp thuế có thể nhận lại một phần đền bù từ việc hưởng các hàng hóa công cộng mà Nhà nước cung cấp. Nộp thuế là một trong những nghĩa vụ cơ bản của mỗi tổ chức và công dân được ghi rõ trong Hiến pháp và các đạo luật của Nhà nước. Tính không hoàn trả trực tiếp của thuế đồng nghĩa với việc thuế không có tính đối giá, tức là người nộp thuế không có quyền yêu cầu đối giá với khoản thuế phải nộp. Đặc điểm này trái ngược với hình thức huy động ngân sách khác như lệ phí, phí. Lệ phí là khoản nộp cho ngân sách Nhà nước mang tính đối giá với các dịch vụ được cung cấp bởi chính phủ.

Sự chuyển giao (transfer) được hiểu là sự chuyển giao một chiều hàng hóa, dịch vụ, tiền tệ… từ chủ thể này sang chủ thể khác. Ngược lại, giao dịch (transfer) là sự trao đổi hai chiều của hàng hóa, dịch vụ… giữa các chủ thể. 

Thứ hai, thuế là một khoản thu mang tính bắt buộc, đây cũng là đặc điểm quan trọng phân biệt giữa thuế và các hình thức động viên tài chính khác của Nhà nước, như công trái, quyên góp mang tính tự nguyện. Joseph E. Stiglitz2 (1986) cho rằng thuế khác đa số các khoản chuyển giao tiền từ người này sang người khác. Trong khi các khoản chuyển giao đó là tự nguyện thì thuế là bắt buộc. 

Tính bắt buộc của thuế do những nguyên nhân sau: 

Trước hết, chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không gắn với lợi ích cụ thể của người nộp thuế nên không thể sử dụng phương pháp tự nguyện trong chuyển giao. Để đảm bảo nhu cầu chi tiêu, Nhà nước phải sử dụng quyền lực của mình để bắt buộc người dân nộp thuế. 

Ngoài ra, trong xã hội văn minh nhu cầu của các thành viên cộng đồng về hàng hóa công cộng mà Nhà nước cung cấp ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, hàng hóa công cộng là một loại hàng hóa đặc biệt, không thể phân bổ theo khẩu phần và bản thân người sử dụng cũng không muốn phân bổ theo khẩu phần. Hơn nữa, đây lại là mặt hàng không cạnh tranh, không thể đem trao đổi ngang giá và trực tiếp để bù đắp chi phí. Vì vậy, trong xã hội xuất hiện “kẻ ăn không”, tức là những người không tự nguyện trả tiền cho việc thụ hưởng hàng hóa công cộng. Do đó Nhà nước phải bắt buộc tất cả thành viên trong xã hội, kể cả “kẻ ăn không” phải chuyển giao thu nhập cho Nhà nước. 

Thứ ba, thuế có tính pháp lý cao. Nhà nước sử dụng hệ thống luật pháp để ban hành các sắc thuế, vì vậy thuế thường được quy định dưới dạng văn bản pháp luật hay pháp lệnh. Trốn thuế hay gian lận thuế đều bị coi là những hành vi vi phạm pháp luật và phải chịu xử phạt về hành chính hoặc hình sự. 

Thứ tư, thuế không có tính mục đích nhất định, tức là một loại thuế cụ thể trong một mức độ cụ thể không được dùng để tài trợ cho một dự án cụ thể của chính phủ mà được tài trợ bởi tổng thể khoản thu của ngân sách Nhà nước. Khoản thu của Joseph E. Stiglitz là nhà kinh tế học người Mỹ, nhận giải Nobel kinh tế năm 2001

1.3. Vai trò của thuế 

Cùng với sự phát triển của xã hội, thuế ngày càng đa dạng và vai trò của thuế cũng càng phức tạp. Tuy nhiên, vai trò cơ bản của thuế bao gồm: 

1.3.1. Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước 

Không một chính phủ nào trên thế giới có thể hoạt động mà không có ngân sách, và chính phủ cũng không có một hệ thống riêng biệt nào chuyên chịu trách nhiệm hoạt động sinh lời, tạo doanh thu cho ngân sách. Nói cách khác, một nhà nước chỉ có thể điều hành các bộ ban của mình thông qua nguồn quỹ công cộng được tích lũy thông qua hình thức thu thuế. Trong các nguồn thu ngân sách của các quốc gia (thông thường gồm các khoản thu như thuế, phí, lệ phí, các khoản vay, thu từ hoạt động đầu tư…), nguồn thu từ thuế luôn chiếm tỉ trọng lớn nhất và là khoản thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước. Theo báo cáo đăng trên cổng thông tin chính thức của chính phủ Trung Quốc (http://english.gov.cn/2008-03/05/content_910305.htm) thì trong năm 2007 tổng thu từ thuế chiếm 88,9% tổng thu ngân sách Nhà nước, ở Nhật tỷ lệ này là 57%, ở Singapore thu từ thuế cũng chiếm tới 91,3% tổng thu Ngân sách Nhà nước (Singapore’s Ministry of Finance, trang 23). 

Sử dụng công cụ thuế để huy động nguồn thu cho ngân sách có những ưu điểm sau: 

Thứ nhất, phạm vi thu thuế rộng, đối tượng nộp thuế bao gồm toàn bộ thể nhân và pháp nhân hoạt động kinh tế và phát sinh nguồn thu nhập phải nộp thuế. 

Thứ hai, thông qua thu thuế, một bộ phận đáng kể thu nhập xã hội tập trung trong tay Nhà nước để đảm bảo các nhu cầu chi tiêu và thực thi các biện pháp kinh tế xã hội. Mặt khác, nguồn thu thuế là từ tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong nước tạo ra, đó là nguồn thu xuất phát từ nội tại nền kinh tế nên có tính lâu dài, bền vững và ổn định.

Thứ ba, hình thức động viên thu nhập bằng thuế có lợi thế hơn các hình thức khác ở chỗ kết hợp giữa phương thức cưỡng chế bằng pháp luật với kích thích vật chất tạo ra sự quan tâm của đối tượng nộp thuế đến hiệu quả kinh doanh, qua đó kích thích nền kinh tế phát triển. 

Một chỉ tiêu thường được sử dụng làm thước đo mức độ đóng góp của thuế là phần trăm tổng thu nhập từ thuế so với GDP, thể hiện mức độ Nhà nước kiểm soát các nguồn lực. Tỷ lệ này có thể sử dụng như một thước đo thể hiện vai trò của khu vực công trong nền kinh tế. Tại Việt Nam, trong 5 năm từ 2001-2005 tỷ trọng thu thuế chiếm 21,4% GDP (2005, “Kinh tế Việt Nam và thế giới”, Thời báo kinh tế Việt Nam, tr. 15). Theo Báo cáo thường niên về chỉ số tự do kinh tế năm 2010 của Qũy Heritage và tạp chí Wall Street Journal, tổng thu thuế năm 2008 của Hoa Kỳ tương đương 28,3% GDP, của Pháp tương đương 45% GDP, của Trung Quốc là 18,3% GDP và của Việt Nam là 23,2% GDP. Các nước với tỉ lệ này cao thường có xu hướng lấy tiền từ túi công chi cho các dịch vụ mà công dân thường đáng ra phải tự trả bằng tiền của mình. 

Tuy nhiên, mức thuế suất cao không đảm bảo tăng thu cho ngân sách Nhà nước. Mức thuế suất không hợp lý có thể cản trở sự phát triển kinh tế, và khuyến khích các hoạt động trốn thuế, lậu thuế. Kết quả là nguồn thu ngân sách từ thuế không tăng, và nền kinh tế cũng gặp cản trở. Vì vậy, Chính phủ có thể tối đa hóa số thuế thu được thông qua xác định thuế suất tại mức tối ưu, điều này được thể hiện qua đường cong Laffer:

t* là mức thuế suất tối ưu, tại đó Nhà nước đạt được số thu ngân sách từ thuế lớn nhất. Khi thuế suất nằm dưới mức tối ưu này, thì nâng thuế suất cho phép tăng thu ngân sách. Nhưng nếu thuế suất đã cao hơn mức tối ưu này mà lại tiếp tục nâng thuế suất thì số thu ngân sách từ thuế lại giảm đi. 

1.3.2. Thuế là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế thị trường 

Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước có thể sử dụng chính sách thuế để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, do chính sách thuế ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập, giá cả, quan hệ cung cầu, cơ cấu đầu tư và sự phát triển hoặc suy thoái của nền kinh tế. Theo trường phái Keynes thì thuế là một trong những công cụ điều tiết tổng cầu của nền kinh tế, chẳng hạn khi tổng cầu tăng quá mức có thể tăng thuế để hạ nhiệt nền kinh tế và kiềm chế lạm phát. Trên thực tế, nhiều nước đã sử dụng chính sách thuế linh hoạt để đối phó với suy thoái kinh tế. Chẳng hạn, trong năm 2009 kế hoạch cứu trợ để đối phó với khủng hoảng kinh tế của nhiều nước sử dụng công cụ thuế: Bỉ cắt giảm thuế suất thuế giá trị gia tăng cho nguyên liệu xây dựng từ 21% xuống 6%, Phần Lan mở rộng phạm vi đối tượng được giảm thuế và tăng ưu đãi thuế, Pháp miễn 2/3 thuế thu nhập cá nhân cho đối tượng có thu nhập chịu thuế ở mức 5,5% (mức thuế suất thấp nhất trong biểu thuế suất lũy tiến), Rumani miễn thuế thu nhập cá nhân cho phần thu nhập từ lãi suất tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm từ ngày 1/1/2009…

Việc điều chỉnh chính sách thuế còn góp phần điều tiết sản xuất và thị trường nhằm hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý, có những ngành kinh tế rất quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội nhưng lại không được các nhà đầu tư quan tâm vì lợi nhuận không cao, nên cần phải có sự đầu tư của Nhà nước. Điều này đòi hỏi phải huy động một tỷ lệ thuế tương đối cao với một số ngành có điều kiện phát triển thuận lợi trong thời kỳ nhất định và một tỷ lệ tương đối thấp với những ngành kém thuận lợi nhằm tạo cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế. Đồng thời, việc phân biệt thuế suất với từng loại sản phẩm, ngành hàng đã góp phần điều chỉnh giá cả, quan hệ cung cầu và hướng dẫn các nhà đầu tư bỏ vốn vào những sản phẩm, ngành hàng theo định hướng của Nhà nước. Chẳng hạn, ở Việt Nam hiện nay, một số loại nông sản, hay các sản phẩm phục vụ hoạt động sản xuất nông nghiệp như phân bón, thức ăn gia súc… là các lĩnh vực được ưu tiên phát triển được áp dụng mức thuế suất thuế giá trị gia tăng ưu đãi là 5%; các lĩnh vực được đặc biệt khuyến khích như xuất khẩu hàng hoá dịch vụ, vận tải quốc tế, dịch vụ cấp tín dụng… được áp dụng thuế suất ưu đãi 0% trong khi các loại hàng hoá dịch vụ khác chịu thuế suất thuế giá trị gia tăng 10%. Chính sách ưu đãi phát triển các ngành công nghệ cao còn được thể hiện ở các ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, hay thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu các mặt hàng công nghệ cao… 

Thuế cũng là một công cụ quan trọng để thực hiện chính sách đối ngoại và bảo hộ nền sản xuất trong nước, thúc đẩy sự hòa hợp kinh tế trong khu vực và trên thế giới. Tổ chức thương mại thế giới (WTO) cũng ra đời trên cơ sở hợp tác giữa các quốc gia liên quan đến vấn đề thuế quan. Ngày nay, tuy xu hướng sử dụng các rào cản phi thuế quan ngày càng được các quốc gia ưa chuộng, nhưng thuế quan vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc bảo hộ nền sản xuất trong nước cũng như thúc đẩy sự hợp tác quốc tế. 

1.3.3. Thuế là công cụ điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối 

Trong nền kinh tế thị trường, nếu không có sự can thiệp của Nhà nước và để thị trường tự điều chỉnh thì sự phân phối của cải và thu nhập sẽ mang tính tập trung rất cao, tạo ra hai cực đối lập nhau, dẫn đến tình trạng phân hóa giàu nghèo. Chính vì vậy Nhà nước phải can thiệp vào sự phân phối để quản lý và điều chỉnh hoạt động của nền kinh tế thông qua hệ thống luật pháp, công cụ kinh tế, tài chính, trong đó thuế là công cụ quan trọng. Trong chính sách thuế, Nhà nước thiết kế các mức thuế suất và ưu đãi khác nhau cho các đối tượng khác nhau. Đồng thời, các chính sách thuế cũng phải thống nhất giữa các thành phần kinh tế và tầng lớp dân cư, không phân biệt các đơn vị, cá nhân. Các tổ chức, cá nhân có hoàn cảnh hay điều kiện tương tự nhau đều phải nộp thuế như nhau (công bằng theo chiều ngang). Người có thu nhập thấp không đủ đảm bảo đời sống thì không phải nộp thuế, người có thu nhập nhiều hơn thì phải nộp thuế nhiều hơn (công bằng theo chiều dọc). Sự công bằng trong chính sách thuế sẽ kích thích mọi tổ chức cá nhân tập trung đầu tư phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh để có thu nhập chính đáng. 

Đồng thời thuế còn thực hiện chức năng phân phối lại thu nhập xã hội, thể hiện thông qua việc Nhà nước sử dụng ngân sách thu từ thuế để chi tiêu cho các hoạt động phục vụ lợi ích của công dân, cung cấp hàng hóa công cộng, trợ cấp, điều hòa thu nhập xã hội. Loại thuế thể hiện tính chất phân phối lại rõ nhất, thể hiện công bằng xã hội chính là thuế trực thu thể hiện ở thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp. 

1.4. Phân loại thuế

Phân loại thuế có ý nghĩa rất quan trọng trong việc làm rõ bản chất của từng loại thuế, qua đó có thể sử dụng công cụ thuế một cách công bằng, hợp lý và hiệu quả hơn. Để phân loại thuế người ta thường căn cứ vào các tiêu thức phân loại khác nhau, phụ thuộc vào từng mục đích khác nhau như: phân loại thuế dựa trên phương thức đánh thuế, phân loại thuế dựa trên cơ sở tính thuế, phân loại thuế dựa trên phạm vi điều chỉnh của sắc thuế, phân loại thuế theo tên gọi của sắc thuế. 

Dưới đây là một số tiêu thức phân loại thuế cơ bản thường được áp dụng: 

1.4.1. Phân loại thuế căn cứ vào phương thức đánh thuế 

Cách phân loại cổ điển nhất và thường được sử dụng nhất là cách phân loại dựa vào phương thức đánh thuế trực tiếp hay gián tiếp vào thu nhập chịu thuế của các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Theo cách này, thuế được phân thành thuế trực thu và thuế gián thu.

Theo John Bouvier4 (1856, tr. 2311), thì “Thuế được chia thành thuế trực thu và thuế gián thu. Thuế trực thu đánh vào tài sản, cá nhân, doanh nghiệp, thu nhập… của người nộp thuế. Thuế gián thu đánh vào hàng hóa trước khi đến tay người tiêu dùng và được nộp bởi người chịu thuế cuối cùng không phải với tư cách thuế, mà với tư cách một phần của giá cả thị trường của hàng hóa đó”. 

Ngoài ra, theo Hội đồng cơ mật (Privacy Council) của Canada, thuế trực thu và thuế gián thu được định nghĩa như sau: “Thuế gồm có thuế gián thu và thuế trực thu. Thuế trực thu là thuế đánh vào chính đối tượng mà nó nhắm đến. Thuế gián thu là thuế đánh vào một cá nhân với kì vọng hay ý định là anh ta sẽ tự trả thuế cho mình bằng chi phí của người khác. Người sản xuất và nhập khẩu một loại hàng hóa được yêu cầu trả thuế cho hàng hóa đó, không phải với ý định áp đặt một khoản đóng góp lên anh ta, mà để thông qua anh ta đánh thuế lên những người tiêu dùng hàng hóa, và anh ta được cho là sẽ bù được khoản thuế bỏ ra bằng việc tăng giá hàng hóa”. 

Như vậy, cách hiểu về thuế trực thu và thuế gián thu trên thế giới không có nhiều điểm khác biệt. Có thể tổng kết những đặc điểm cơ bản của thuế trực thu và thuế gián thu như sau: 

Thuế trực thu là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của các đối tượng nộp thuế. Thuế trực thu có đặc điểm là đối tượng nộp thuế theo luật định cũng chính là đối tượng chịu thuế, ví dụ như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế đánh vào quà tặng, quà biếu… Thuế trực thu khác với thuế gián thu ở chỗ không được cộng vào giá hàng hóa và dịch vụ. 

Ưu điểm của thuế trực thu là động viên trực tiếp thu nhập của từng tổ chức và cá nhân có thu nhập, cho nên đảm bảo được tính công bằng xã hội hơn thuế gián thu, vì phần đóng góp thường phù hợp với khả năng của từng đối tượng, thu nhập cao thì chịu thuế cao, thu nhập thấp thì chịu thuế thấp, thu nhập chỉ đủ trang trải chi phí cần thiết hoặc không có thu nhập thì không phải nộp thuế. Do đó, thuế  trực thu có tác dụng rất lớn trong việc điều hòa thu nhập, giảm bớt sự chênh lệch giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội.

Tuy nhiên, thuế trực thu cũng có khuyết điểm, đó là phần nào hạn chế sự cố gắng tăng thu nhập của đối tượng nộp thuế do thu nhập càng cao thì số thuế nộp càng nhiều. Việc quản lý thuế trực thu phức tạp và chi phí quản lý thường cao hơn thuế gián thu.

Thuế gián thu là loại thuế không trực tiếp đánh vào thu nhập hay tài sản của người nộp thuế mà điều tiết gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân khi tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ, ví dụ như thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt. Thuế trực thu có đặc điểm là người nộp thuế không phải là người chịu thuế. Thuế này do người sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ nộp cho Nhà nước, nhưng người chịu thuế là người tiêu dùng cuối cùng những hàng hóa dịch vụ đó. Bởi vì, tiền thuế được cộng vào giá cả khi mua hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng trả tiền. 

Ưu điểm của thuế gián thu là đảm bảo được sự tự lựa chọn của người chịu thuế với các loại hàng hóa, dịch vụ mà họ quyết định mua, đảm bảo tính tự nguyện chịu thuế. Đồng thời, thuế gián thu còn tránh được quan hệ trực tiếp giữa người chịu thuế và cơ quan thuế nên dễ thu hơn so với thuế trực thu. Thuế gián thu cũng dễ điều chỉnh tăng hơn thuế trực thu vì những người chịu thuế thường không cảm nhận ngay gánh nặng của loại thuế này. Bên cạnh đó, thuế gián thu còn là công cụ điều tiết, bảo hộ sản xuất kinh doanh trong nước, và hướng dẫn tiêu dùng. Hiện nay trên thế giới có xu hướng coi trọng thuế gián thu hơn thuế trực thu vì nó có đối tượng chịu thuế rất rộng, đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách, dễ thu, dễ quản lý, đồng thời chi phí phải bỏ ra để thu thuế cũng thấp. 

Tuy nhiên, nhược điểm của thuế gián thu là tính lũy thoái của nó. Vì thuế gián thu đánh thuế như nhau trên cùng một loại hàng hóa, dịch vụ nên người giàu và người nghèo nếu cùng tiêu dùng một loại hàng hóa, dịch vụ và số lượng như nhau thì chịu thuế như nhau, nhưng thực chất khi xét tỷ lệ động viên thuế gián thu so với thu nhập thì người giàu chịu thuế thấp hơn người nghèo; người có thu nhập càng cao thì tỷ lệ nộp thuế gián thu càng thấp.

1.4.2.  Phân loại thuế căn cứ vào đối tượng đánh thuế 

Theo cách phân loại này thì thuế gồm có: 

– Thuế đánh vào hoạt động sản xuất, kinh doanh như: thuế doanh thu, thuế giá trị gia tăng.

– Thuế đánh vào hàng hóa như: thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt. 

– Thuế đánh vào tài sản như: thuế nhà đất. 

– Thuế đánh vào thu nhập như: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân. 

Việc phân loại thuế theo đối tượng như trên vừa phát huy tác dụng riêng của từng loại thuế, vừa hỗ trợ cho nhau để bảo đảm thực hiện chức năng toàn diện của cả hệ thống thuế. Tuy nhiên, việc phân loại thuế theo đối tượng đánh thuế chỉ là tương đối, chẳng hạn như thuế giá trị gia tăng, theo cách phân loại này là thuế đánh vào hàng hoá nhưng lại được thu ở khâu sản xuất kinh doanh, do đó thuế đánh vào hoạt động sản xuất kinh doanh hay thuế đánh vào hàng hoá thực chất chỉ là một. 

1.4.3. Phân loại thuế căn cứ vào chế độ phân cấp và điều hành ngân sách 

Theo tiêu thức này, thuế thường được phân chia thành thuế trung ương và thuế địa phương. 

Thuế trung ương: Là loại thuế được Nhà nước ban hành thành các văn bản pháp quy và được điều tiết hoàn toàn vào Ngân sách Nhà nước ở Trung ương. Thuế trung ương bao gồm các nguồn thu lớn từ các hoạt động sản xuất kinh doanh có phạm vi rộng lớn trên lãnh địa quốc gia, hoặc thu từ các tài nguyên lớn thuộc sở hữu Nhà nước. 

Thuế địa phương: là loại thuế được Nhà nước quy định thu trên phạm vi lãnh thổ được phân công quản lý và được điều tiết vào Ngân sách Nhà nước ở địa phương. Thuế địa phương bao gồm các nguồn phát sinh trên địa bàn, phần lớn có quy mô vừa và nhỏ, đối tượng nộp thuế nhiều và quản lý phức tạp. 

1.5. Tiêu chuẩn đánh giá hệ thống thuế 

Trong tác phẩm kinh điển Của cái các quốc gia (The wealth of Nations), nhà kinh tế học Adam Smith (1723–1790) đã hệ thống hóa các quy tắc kiểm soát và điều chỉnh hệ thống thuế hợp lý. Trải qua thời gian, những tiêu chuẩn này vẫn giữ được tính phù hợp và có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đánh giá hệ thống thuế nói chung cũng như từng sắc thuế nói riêng. Trong Quyển V, Chương 2 của cuốn Của cải các quốc gia, Adam Smith đưa ra 4 tiêu chuẩn chung: 

Các đối tượng đánh thuế phải đóng góp cho sự hỗ trợ của chính phủ, càng gần mức được hỗ trợ càng tốt, theo tỷ lệ khả năng tương ứng của mình. Đó là tỷ lệ trong phần doanh thu mà họ được hưởng tương ứng dưới sự bảo vệ của Nhà nước. 

Số thuế mỗi cá nhân phải nộp cần chắc chắn, không tùy tiện. Thời gian nộp, cách thức nộp, giá trị phải nộp, tất cả đều phải rõ ràng và đơn giản đối với người đóng góp và với mọi người khác. 

Mỗi loại thuế nên được đánh vào một thời điểm và theo một cách thức sao cho có thể thuận tiện nhất cho người đóng thuế. 

Mỗi loại thuế nên được xử lý linh hoạt sao cho chi phí tiến hành thu thuế thấp nhất. 

Nhìn chung, những quy tắc này cũng tương đồng với những tiêu chuẩn quan trọng được các nhà kinh tế hiện đại chấp nhận, gồm những tiêu chuẩn chính sau: 

1.5.1. Tính công bằng (Equity) 

Có hai hướng tiếp cận về tính công bằng của thuế được nhiều nhà kinh tế thừa nhận, đó là xem xét tính công bằng theo lợi ích được hưởng và theo khả năng chi trả. 

Thứ nhất, tính công bằng tiếp cận theo lợi ích được hưởng. 

Theo cách tiếp cận này thì các cá nhân phải được đánh thuế theo lợi ích mà họ nhận được từ những chương trình chi tiêu được tài trợ từ tiền thuế của chính phủ. Cách tiếp cận này coi hàng hóa công cộng giống như hàng hóa tư nhân. Chẳng hạn, tại Mỹ nguồn thu từ thuế xăng dầu sẽ được dùng để xây dựng và bảo dưỡng đường xá. Vì người mua xăng cũng là người sử dụng đường nên thuế xăng dầu có thể được coi là cách công bằng để thanh toán cho dịch vụ này của chính phủ. 

Đánh thuế theo lợi ích được hưởng đã công khai ràng buộc chính sách thuế với chính sách chi tiêu của chính phủ. Khó khăn lớn của việc tiếp cận này là tính toán lợi ích của chi tiêu công cộng, do vậy trên thực tế khó có thể đảm bảo thực hiện đánh thuế theo lợi ích một cách đúng nghĩa. 

Thứ hai, tính công bằng tiếp cận theo khả năng chi trả. 

Theo cách tiếp cận này, thuế đánh vào người dân cần phải dựa vào khả năng gánh vác gánh nặng thuế của họ. Khác với cách tiếp cận dựa trên lợi ích thụ hưởng, mức đóng thuế không liên quan trực tiếp đến việc sử dụng dịch vụ công cộng. Nguyên tắc đánh thuế theo khả năng chi trả dẫn đến hai hệ quả về công bằng: công bằng ngang và công bằng dọc. 

Công bằng ngang phản ánh nguyên tắc những người nộp thuế có hoàn cảnh điều kiện giống hay tương tự nhau sẽ nộp thuế ngang nhau, bởi vì họ có khả năng trả thuế ngang nhau. Trên thực tế, nguyên tắc bình đẳng này hay bị coi nhẹ, cả cố ý lẫn vô ý. Những vi phạm cố ý thường nhằm mục đích chính trị hơn là kinh tế, chẳng hạn như những ưu đãi thuế cho nông dân, tầng lớp trung lưu hay miễn thuế cho thu nhập từ lãi suất trái phiếu chính phủ. 

Công bằng dọc được hiểu là đối xử khác nhau với những đối tượng khác nhau, có xét đến khả năng trả thuế. Nguyên tắc này thường được hiểu là các loại thuế nên được đánh theo cấu trúc lũy tiến. Và theo cách hiểu đó, các loại thuế gián thu đã vi phạm nguyên tắc này. 

1.5.2. Tính hiệu quả (Efficiency) 

Yêu cầu về tính hiệu quả của thuế nảy sinh từ bản chất của nền kinh tế thị trường. Mặc dù có nhiều ví dụ trái ngược, các nhà kinh tế nhìn chung vẫn tin rằng thị trường có tác động lớn đối với việc đưa ra quyết định cho những lựa chọn như là tiêu dùng, sản xuất và đầu tư. Do đó, họ cho rằng chính sách thuế nên hạn chế can thiệp vào sự phân bổ các nguồn lực kinh tế. Có nghĩa là hệ thống thuế nên gây ít tác động lên các quyết định của từng cá nhân. Thuế không nên phân biệt thiên vị hay định kiến với những khoản chi tiêu, phương tiện sản xuất, những hình thức tổ chức hay những ngành nghề nhất định. Tất nhiên, điều này không có nghĩa là các mục tiêu kinh tế xã hội không thể có những cân nhắc ngoại lệ. Chẳng hạn, rất nên đánh thuế ô nhiễm như là một công cụ để bảo vệ môi trường.

Tính hiệu quả hay trung lập của thuế hướng vào việc xem xét các sắc thuế có khiến người nộp thuế phải tham gia vào các hoạt động khác với ngành nghề để tránh nộp thuế hay không. Thuế được xem như trung lập khi nó không bóp méo các quyết định của các cá nhân, ngược lại nếu thuế bóp méo hành vi quyết định của người nộp thuế, thuế đó không trung lập. 

Xét trên phạm vi quốc tế, cần thiết xem xét liệu hệ thống thuế có khuyến khích tính trung lập trong xuất nhập khẩu vốn. Tính trung lập trong xuất khẩu vốn được thừa nhận khi sự lựa chọn của người nộp thuế giữa việc đầu tư trong nước hay nước ngoài không bị tác động bởi thuế. Tính trung lập trong nhập khẩu vốn được thừa nhận nếu công ty hoạt động ở nước ngoài có cùng địa vị nộp thuế như các đối thủ cạnh tranh địa phương. 

1.5.3. Các tiêu chuẩn khác 

Tính đơn giản 

Tiêu chuẩn đơn giản có nghĩa là các quy định thuế cần dễ hiểu, dễ tiếp cận, dễ sử dụng và không rối rắm. “Đơn giản” là một thuật ngữ tổng quát bao gồm các khái niệm sau: 

Tính có thể lĩnh hội: Thuế phải dễ hiểu đối với người nộp. 

Tính chắc chắn: Việc áp dụng thuế cho một giao dịch nhất định cần dự báo được, xác định được và tương đối chắc chắn, không mập mờ đa nghĩa – đối với cả người nộp thuế lẫn cơ quan quản lí thuế. 

Tính thuận tiện trong quản lí: Người nộp thuế không phải tốn quá nhiều thời gian hay chi phí để thi hành nghĩa vụ thuế. 

Tính khó trốn tránh: Luật thuế cần tạo ra ít cơ hội nhất có thể cho các hành vi không tuân thủ.

Tính ổn định 

Tính ổn định của thuế có ý nghĩa quan trọng trong việc tài trợ cho các nhu cầu của chính phủ, đảm bảo duy trì tính liên tục trong các chính sách về ngân sách của chính phủ. Ngoài ra, những thay đổi thường xuyên về thuế suất và các luật lệ về thuế sẽ khiến cho khu vực tư nhân gặp khó khăn trong lập kế hoạch dài hạn. Khi hệ thống thuế không ổn định, nó sẽ trở thành một nguồn rủi ro và gây ra tình trạng kém hiệu quả cho kinh tế đất nước. 

Chi phí quản lý thuế và chấp hành thuế phải hợp lý 

Số thuế thu được là để tài trợ cho các nhu cầu của chính phủ nên chi phí thu thuế cao sẽ làm giảm số thu ròng còn lại cho chính phủ. Nguyên tắc này yêu cầu phải tổ chức bộ máy thu thuế gọn nhẹ với chi phí thấp nhất. 

2. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 

2.1. Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp 

Trước khi đưa ra khái niệm thuế TNDN, cần phải làm rõ các khái niệm về doanh nghiệp, và thu nhập doanh nghiệp. Thuế thu nhập doanh nghiệp (ở một số nước còn gọi là thuế thu nhập công ty, thuế công ty hay thuế lợi tức) được áp dụng từ lâu ở nhiều nước trên thế giới. Sự khác biệt về tên gọi của sắc thuế này giữa các quốc gia là do sự khác nhau trong ngôn ngữ luật pháp giữa các nước quy định về những hình thức đầu tư của các loại hình doanh nghiệp khác nhau, cũng như sự khác nhau giữa chính sách thuế của các nước đối với “loại hình kinh doanh có tổ chức” này. 

Trước hết, chúng ta cần xem xét khái niệm “doanh nghiệp” trên cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Xét theo nghĩa rộng, doanh nghiệp là tất cả các loại hình kinh doanh có tổ chức như công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, công ty Nhà nước… Xét theo nghĩa hẹp, khái niệm doanh nghiệp chỉ được dùng để chỉ các công ty cổ phần. Chính vì những quan niệm như trên nên ở một số nước tồn tại một sắc thuế riêng với công ty cổ phần và các hình thức kinh doanh có tổ chức khác phải chịu sự điều chỉnh của các sắc thuế thu nhập khác. Đôi khi hình thức thuế này chỉ đánh vào các công ty cổ phần lớn trong khi các công ty cổ phần nhỏ lại bị đánh thuế như các tổ chức kinh doanh còn lại. Chính vì vậy, đối tượng nộp thuế của thuế TNDN ở các nước khác nhau không phải bao giờ cũng giống nhau. 

Bên cạnh đó, khái niệm “thu nhập doanh nghiệp” cũng cần được làm rõ. Thu nhập được hiểu là tổng các giá trị mà một chủ thể nhận được trong nền kinh tế thông qua quá trình phân phối thu nhập quốc dân trong một thời gian, không phân biệt nguồn gốc hình thành từ lao động, tài sản hay đầu tư. Trên thực tế, thu nhập được định nghĩa bằng các yếu tố cụ thể sẽ đưa vào trong cơ sở tính thuế (thu nhập từ việc làm, từ lợi nhuận kinh doanh, tiền cho thuê) chứ không thông qua một công thức tổng quát. Điều này đúng với các quốc gia áp dụng hệ thống thuế phân theo loại hình thu nhập. 

Theo hệ thống thuế truyền thống thì thu nhập gồm tiền mặt nhận được và các khoản tương đương, cũng bao gồm các khoản sẽ nhận được hay dự kiến nhận được. Có quốc gia lại phân chia thu nhập thành thu nhập (hay thu nhập thông thường) và lãi vốn. Lãi vốn chịu thuế theo quy định riêng và thuế suất riêng. Ở Úc, thu nhập thông thường dùng để phân biệt với thu nhập theo pháp luật (gồm tất cả thu nhập và lãi vốn có trong cơ sở tính thuế theo quy định của pháp luật). Phần lớn các quốc gia xác định thu nhập theo các bước khác nhau: thu nhập ban đầu (ví dụ tổng thu nhập) giảm dần sau khi khấu trừ các khoản miễn giảm cá nhân, khấu trừ thuế… để xác định thu nhập chịu thuế. Trong bước trung gian và bước cuối gồm có thu nhập điều chỉnh của tổng thu nhập, thu nhập kê khai (Canada), thu nhập chịu thuế (Anh) và thu nhập ròng. Do sự khác biệt trong hệ thống thuế của từng quốc gia, việc so sánh các thuật ngữ với nhau thường ít được thực hiện. 

Cuối cùng, chúng ta xem xét khái niệm thuế TNDN. Cho đến nay, chưa có một khái niệm thống nhất nào định nghĩa thuế thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên, có thể xem xét một số quan điểm sau: 

Chuyên gia về thuế của trường Đại học Luật New York, Daniel N. Shaviro (2009, tr. 3) cho rằng thuế TNDN “có thể hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Hiểu theo nghĩa hẹp, thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ đơn giản là thuế đánh vào các doanh nghiệp. Mở rộng khái niệm này, thuế thu nhập doanh nghiệp còn chỉ việc đánh thuế vào các nguồn lợi nhuận tài chính của các cá nhân trong các doanh nghiệp, chẳng hạn như cổ phần hay các khoản nợ”. 

Author O’Sullivan và Steven M.Shefrin trong cuốn Economics: Principles in action cho rằng thuế TNDN là loại thuế do luật pháp quy định, đánh vào lợi nhuận (profit) của công ty. Hai tác giả này quan niệm thuế TNDN là loại thuế đánh vào giá trị của lợi nhuận của một doanh nghiệp. 

Từ các khái niệm trên, chúng ta có thể kết luận rằng thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp trong kinh doanh. 

Bản chất của thuế TNDN là thuế đánh vào thu nhập của chủ sở hữu trong khu vực sản xuất, kinh doanh. Điều này gây ra nhiều tranh luận trên thế giới về sự tồn tại của sắc thuế này. Cùng một khoản thu nhập của chủ sở hữu công ty nhưng lại chịu sự điều chỉnh của cả hai loại thuế là thuế TNDN và thuế thu nhập cá nhân. Tuy vậy, thuế TNDN là sắc thuế hợp lý và nó vẫn tồn tại như một thực thể khách quan vì những lí do sau: 

Thứ nhất, doanh nghiệp là một thực thể tồn tại độc lập khách quan nên phải thực hiện nghĩa vụ thuế giống như một đối tượng chịu thuế độc lập. Sự tập hợp các khoản vốn của các chủ sở hữu mới chỉ đơn giản là khâu huy động vốn và chưa thể nói là đã hình thành một công ty. Công ty chỉ có thể hình thành và tồn tại được khi các nhân tố về vốn, lao động, công nghệ, thị trường… được tập hợp lại thành một hệ thống. So với cá nhân tự bỏ vốn ra kinh doanh, các công ty có lợi thế hơn ở nhiều mặt, đó là khả năng cạnh tranh, khả năng ứng dụng công nghệ, khả năng vay nợ, khả năng hạn chế rủi ro… Khi những khả năng nổi trội trên xuất hiện thì sự hiện diện của công ty kinh doanh có tính độc lập tương đối với các chủ sở hữu. Công ty càng lớn, mức độ xã hội hóa càng cao thì sự độc lập này càng thể hiện rõ hơn. Sự hoạt động của các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn được thực hiện chủ yếu thông qua một nhóm các nhà quản trị, trong khi đó sự tham gia của các chủ sở hữu rất hạn chế và không ảnh hưởng nhiều đến hoạt động của công ty. 

Thứ hai, doanh nghiệp được hưởng những ưu đãi, lợi thế mà Nhà nước tạo ra, vì thế phải hoàn lại dưới hình thức thuế TNDN. Khi tham gia kinh doanh trên lãnh thổ một quốc gia nào đó các doanh nghiệp đã được Nhà nước đó tạo ra những điều kiện để có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh an toàn, thuận lợi như: cơ sở hạ tầng kỹ thuật, sự bảo vệ về mặt pháp luật, chính sách hỗ trợ về công nghệ, vốn, kỹ thuật… Có thể nói một phần thu nhập do các doanh nghiệp tạo ra có phần đóng góp của toàn xã hội, do vậy các doanh nghiệp phải nộp thuế, có như thế mới đảm bảo tính công bằng về quyền và nghĩa vụ. 

Thứ ba, còn có quan điểm cho rằng thuế TNDN là loại thuế thu trước hoặc thu gộp hay thuế bổ sung của thuế TNCN để tránh tình trạng thất thu thuế và giảm bớt các đầu mối thu. Đối với các cơ quan thuế, việc kiểm soát, quản lý thu nộp thuế từ các công ty rõ ràng thuận lợi hơn so với việc kiểm soát, quản lý thu từng cá nhân. Vì vậy, việc đánh thuế TNDN vừa giảm được các đầu mối quản lý thu vừa có thể hạn chế khả năng thất thu thuế do thiếu kiểm soát chặt chẽ thuế TNCN. Điều này đặc biệt thích hợp cho các nước đang phát triển khi thuế TNCN chưa có hoặc đã có nhưng mới chỉ ở dạng sơ khai. 

Như vậy, sự tồn tại của thuế TNDN là hoàn toàn hợp lý, và vai trò của loại thuế này ngày càng quan trọng trong đảm bảo ổn định nguồn thu ngân sách và thực hiện điều tiết thu nhập. 

2.2. Quá trình hình thành, phát triển của thuế thu nhập doanh nghiệp 

Đánh thuế trên thu nhập doanh nghiệp là một khái niệm hiện đại, và xuất hiện khá muộn sau các hình thức thuế khác trong lịch sử loài người. Để đánh thuế trên thu nhập, xã hội cần phải phát triển đến một mức độ nhất định để có hệ thống kế toán để ghi chép chính xác các chi phí, doanh thu, lợi nhuận… 

Trong lịch sử, thuế TNDN được thể hiện dưới các hình thức thuế thu nhập khác nhau như thuế lợi nhuận đất đai, nhà cửa… Hình thức thuế thu nhập này đã xuất hiện từ thời cổ đại và được đánh vào cá nhân. Đến đầu thế kỷ 19 khi các loại hình công ty xuất hiện nhiều ở các nước châu Âu và châu Mỹ, thì luật thuế ở các nước mới có những quy định riêng dành cho loại hình kinh doanh có tổ chức này. Vào những năm 1820, luật thuế ở các tiểu bang của Hoa Kỳ như Luật thuế bang New York năm 1823 hay Luật thuế chung bang Massachusetts năm 1832 không đề cập một sắc thuế nào đánh riêng vào thu nhập của các công ty, mà chỉ có thuế tài sản đánh vào cá nhân. Tuy nhiên, với sự bùng nổ của các công ty bảo hiểm, công ty xây dựng, đường sắt… thời đó, luật thuế các bang này mới có quy định về thuế đánh vào tài sản của các công ty với quan điểm rằng tự nhiên nhân hay các pháp nhân đều phải chịu thuế trên tài sản mình sở hữu. Do kế toán thời kì đó chưa phát

triển nên các sắc thuế này đều căn cứ vào biểu hiện bằng tài sản như số người làm công, bất động sản, động sản khác. Tuy nhiên, các công ty hay cá nhân đều có cùng phương pháp đánh thuế như nhau do Luật thuế tài sản điều chỉnh. 

Thuế thu nhập thực sự đầu tiên được đánh trực tiếp vào lợi nhuận kế toán, khi công tác kế toán chính thức được áp dụng cho các nhà máy và cơ sở sản xuất trong việc xác định lợi nhuận tính thuế. Sự tập trung vốn và sự mở rộng các hình thức đầu tư đã thúc đẩy sự ra đời của thuế thu nhập doanh nghiệp với tư cách một sắc thuế độc lập với các sắc thuế khác vào cuối thế kỷ 19 ở nước Phổ (năm 1891). 

Ở nước Phổ, thuế TNDN, hay còn gọi là “Gewerbesteue’r” theo tiếng Phổ, đã  

tồn tại cùng với thuế thu nhập, thuế đất đai, thuế nhà cửa… và được tách thành sắc thuế riêng vào năm 1891. Thuế TNDN của Phổ đã có quy định rõ về những loại doanh nghiệp phải nộp thuế cũng như thuế suất và cách tính thu nhập chịu thuế. Thu nhập chịu thuế được hình thành từ các khoản thu nhập ròng hàng năm từ bốn khoản mục bao gồm vốn, bất động sản, kinh doanh và sản xuất công nghiệp, và tài sản xa xỉ. Các khoản thu nhập không thường xuyên như thu nhập từ thừa kế, bảo hiểm nhân thọ, bán bất động sản (không nhằm mục đích kinh doanh) và các khoản thu không thường xuyên khác không được coi là thu nhập, mà coi là vốn tư bản. Các điều khoản chi tiết cũng quy định rõ về những khoản khấu trừ từ tổng thu nhập để tính thu nhập chịu thuế. Từng loại hình công ty, như công ty trách nhiệm hữu hạn hay công ty cổ phần chịu mức thuế suất không giống nhau. 

Sau đó, thuế TNDN lan sang Đức, và các nước châu Âu khác. Canada áp dụng thuế TNDN từ cuối thế kỷ 19. Đến đầu thế kỷ 20, các nước khác như Pháp, Thụy Sỹ, Liên Xô và Trung Quốc cũng bắt đầu áp dụng thuế TNDN. 

Việt Nam, kể từ sau năm 1945, hình thức ban đầu của thuế TNDN là thuế tính trên lợi tức kinh doanh theo biểu thuế lũy tiến từng phần áp dụng từ năm 1951. Thuế đánh vào lợi tức doanh nghiệp nằm trong thuế công thương nghiệp chung với thuế buôn chuyến, thuế môn bài. Đến năm 1956, Luật thuế lợi tức doanh nghiệp ra đời, áp dụng cho mọi cơ sở kinh doanh. Sau đó, từ năm 1965 đến 1990, chính sách thuế lợi tức được tách riêng cho khu vực kinh tế quốc doanh và kinh tế ngoài quốc doanh, theo đó khu vực kinh tế quốc doanh nộp “Thu quốc doanh”, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nộp “Thuế lợi tức doanh nghiệp”. Đến năm 1990, Quốc hội thông qua Luật thuế lợi tức (30/6/1990) áp dụng cho tất cả mọi loại hình doanh nghiệp, không phân biệt thành phần kinh tế. Do những bất cập của thuế lợi tức với tình hình kinh tế đất nước nên Quốc hội đã ban hành Luật thuế TNDN năm 1997, sau đó sửa đổi năm 2003 và gần đây nhất là Luật thuế TNDN ban hành năm 2008. 

2.3. Đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp 

2.3.1.  Đối tượng nộp thuế TNDN 

Đối tượng nộp thuế TNDN là các doanh nghiệp có phát sinh thu nhập chịu thuế. Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều doanh nghiệp không chỉ kinh doanh ở một quốc gia mà ở nhiều quốc gia khác nhau. Vì vậy, luật thuế TNDN của các quốc gia thường đánh thuế dựa trên cơ sở thường trú hoặc nguồn phát sinh thu nhập. Đây là một vấn đề quan trọng xác định nghĩa vụ nộp thuế khi ban hành chính sách thuế TNDN. 

Đa số các nước trên thế giới áp dụng hình thức đánh thuế trên cơ sở thường trú. Đặc trưng của hình thức này là đối tượng thường trú bị đánh thuế trên thu nhập từ mọi nơi trên thế giới, đối tượng không thường trú thì chỉ bị đánh thuế trên thu nhập phát sinh tại nước đó. Hiện nay, trên thế giới chưa có một sự nhất quán nào về các tiêu chuẩn xác định thường trú. Chẳng hạn, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Thái Lan cho rằng các công ty thường trú là công ty có báo cáo tài chính hợp nhất ở nước của họ. Malaysia lại định nghĩa công ty thường trú là công ty mà cơ quan quản lý và điều hành đầu não được đặt ở Malaysia. Tuy nhiên, có những nước sử dụng cả hai tiêu chuẩn hợp nhất báo cáo tài chính và sự quản lý điều hành của công ty để xác định tình trạng thường trú đó. 

Hình thức đánh thuế dựa trên cơ sở nguồn phát sinh thu nhập có cơ sở tính thuế hẹp hơn cách tính thuế dựa trên cơ sở thường trú khi trên lãnh thổ của một quốc gia có nhiều công ty nước ngoài hoạt động kinh doanh. 

2.3.2.  Cơ sở thuế TNDN 

Thuế TNDN đánh vào thu nhập chịu thuế, hay thu nhập ròng (đã trừ chi phí) của doanh nghiệp. Về nguyên tắc, thu nhập chịu thuế là bất cứ khoản thu nhập phát sinh nào không phân biệt từ nguồn sản xuất, kinh doanh, đầu tư sau khi trừ đi những khoản khấu trừ được pháp luật quy định. 

Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ các khoản thu từ hoạt động kinh doanh và các khoản thu khác trong một thời kì nhất định (thường là một năm). Chi phí được khấu trừ trong kỳ tính thuế phải được xác định cùng khoảng thời gian với doanh thu tính thu nhập chịu thuế. 

Thu nhập chịu thuế TNDN chính là thu nhập của doanh nghiệp xác định theo nguyên tắc kế toán có sự điều chỉnh theo quy định của Luật thuế. Ở một số nước, thu nhập chịu thuế là thu nhập kế toán có sự điều chỉnh nên thu nhập tính thuế và thu nhập kế toán có sự khác nhau. Chính vì vậy, việc so sánh thu nhập tính thuế giữa các quốc gia khó có thể thực hiện được, nên khó có thể thực hiện việc đánh giá so sánh gánh nặng thuế TNDN giữa các nước. Trên thực tế, các nhà hoạch định chính sách và các nhà kinh doanh thường so sánh các mức thuế suất thuế TNDN giữa các nước với nhau. Điều này giải thích vì sao làn sóng cải cách thuế ở các nước hiện nay đều hướng tới mở rộng cơ sở tính thuế và giảm thuế suất thuế TNDN (tương tự như cải cách thuế TNCN). 

Sự khác biệt lớn nhất của cơ sở thuế phát sinh từ những nguyên nhân sau: 

Sự khác nhau về chi phí được khấu trừ khi xác định thu nhập chịu thuế 

Sự khác nhau trong quy định về khấu hao tài sản 

Sự khác nhau về các ưu đãi thuế, và các quy định về chuyển lỗ. 

Chi phí được khấu trừ là phần rất quan trọng của Luật thuế TNDN. Mỗi quốc gia đều có quy định cụ thể về các khoản chi phí được khấu trừ khi tính thuế TNDN và các quy định này không hoàn toàn thống nhất với nhau. Tuy nhiên, hầu hết các quốc gia đều thống nhất về nguyên tắc khấu trừ các chi phí như sau: chi phí phải có liên quan đến hoạt động tạo ra thu nhập của doanh nghiệp; chi phí phải được thật sự chi ra trong thời gian và không gian nhất định; mức chi phải ở mức hợp lý và hợp lệ. 

Sự khác biệt trong quy định về khấu hao giữa các quốc gia cũng tạo ra khác biệt trong cơ sở thuế TNDN. Chẳng hạn, thời gian khấu hao với từng nhóm tài sản thường được quy định khác nhau ở các quốc gia. Theo Luật của Việt Nam, tài sản cố định là vườn cây ăn quả, vườn cây lâu năm có thể được khấu hao trong thời gian từ 6 đến 40 năm (Thông tư 203/2009/TT-BTC, Phụ lục 1), trong khi thời gian khấu hao với tài sản là vườn cây ăn quả… mà Luật thuế TNDN Hoa Kỳ cho phép là 10 năm (Luật thuế nội địa Hoa Kỳ, Sec. 168). 

Ngoài ra, cơ sở thuế còn chịu sự ảnh hưởng của các quy định về ưu đãi thuế hoặc chuyển lỗ từ các năm trước sang năm tính thuế hiện tại. Thông thường các nước thường cho phép chuyển lỗ trong thời gian nhất định, chẳng hạn như ở Việt Nam các doanh nghiệp được phép chuyển lỗ không quá 5 năm kể từ năm phát sinh lỗ. Có những quốc gia có quy định rất đặc biệt về chuyển lỗ, chẳng hạn như Hoa Kỳ. Trong Luật thuế của Hoa Kỳ, doanh nghiệp không chỉ được chuyển lỗ về các năm sau mà còn được chuyển lỗ lùi về những năm trước đó; và doanh nghiệp còn có thể thực hiện các giao dịch mua bán các khoản lỗ này. 

2.3.3. Thuế suất thuế TNDN 

Việc đánh thuế TNDN có thể áp dụng thuế suất cố định hoặc lũy tiến. Các quốc gia áp dụng thuế suất cố định như Việt Nam, Trung Quốc… trong khi thuế suất luỹ tiến được áp dụng ở Hoa Kỳ, Anh, Singapore, Hàn Quốc… Nhìn chung, trên thế giới nguồn thu ngân sách của các nước đang phát triển phụ thuộc khá nhiều vào thuế TNDN so với các nước phát triển, nên thuế suất thuế TNDN ở các nước này có xu hướng cao hơn.

3. Dowload chuyên đề tốt nghiệp luật miễn phí

Để xem toàn bộ chuyên đề tốt nghiệp này, bạn có thể tải về tại đây