Cơ sở lý luận về công tác xã hội hóa giáo dục và đào tạo

Nếu bạn đang gặp khó khăn khi triển khai làm luận văn về công tác xã hội hóa giáo dục và đào tạo, hãy tham khảo ngay bài viết mà chuyendetotnghiep.net chia sẻ dưới đây.

Cơ sở lý luận về công tác xã hội hóa giáo dục và đào tạo

1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 

1.1. Việc nghiên cứu xã hội hóa công tác giáo dục ở các nước trên thế giới 

Ở nhiều nước trên thế giới, người ta thực hiện Xã hội hoá công tác giáo dục trong lĩnh vực này bằng cách huy động các nguồn đóng góp tài chính của xã hội qua thuế và các nguồn thu khác để nhà nước trực tiếp quản lý, đầu tư cho giáo dục. Vì vậy họ thực hiện hệ thống giáo dục thống nhất, nhà nước chi phí đầy đủ, thường xuyên cho mọi nhà trường. Học sinh không phải đóng học phí. Kinh phí nhà trường gồm tiền lương giáo viên, cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động đều được nhà nước chăm lo, xã hội chăm sóc bằng nguồn tài chính do xã hội đóng góp. Một số nước châu Âu như Anh và Đức trước đây, cũng như một số nước xã hội chủ nghĩa (Liên Xô cũ, Trung Quốc trước năm 1998, và cả Việt Nam trong thập kỷ 60-90) cũng bao cấp cả cho giáo dục. Tuy nhiên, trong hai thập kỷ gần đây, quá trình đại chúng hóa giáo dục cùng với chi phí tăng cao dành cho việc đào tạo và nghiên cứu đã dẫn đến một hệ quả không thể tránh khỏi là chính sách bao cấp ấy phải thay đổi.

>>> Xem thêm: Tìm hiểu về quản lý giáo dục

“Con người là trung tâm của sự phát triển”, đây là quan điểm hiện nay của nhiều nước trên thế giới như Trung Quốc đã xác định “Đưa giáo dục vào vị trí ưu tiên cho sự phát triển”. Ấn Độ cho rằng “ Huy động xã hội tham gia công tác giáo dục gắn với phát triển nông thôn, huy động cộng đồng phát triển giáo dục phi chính phủ”. Tuy cách làm và biện pháp tổ chức thực hiện xã hội hóa công tác giáo dục mỗi nước khác nhau, nhưng nhìn chung về bản chất thì điều thực hiện chính sách “Tăng cường sự tham gia của các tổ chức xã hội, cộng đồng vào sự phát triển của giáo dục” tạo nhiều cơ hội để tất cả mọi người ai cũng được tiếp cận hưởng thụ các thành quả của giáo dục. Vì thế việc quan tâm, đầu tư, huy động mọi nguồn lực và mọi điều kiện cho phát triển giáo dục là sách lược lâu dài của nhiều nước trên thế giới.

1.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xã hội hóa công tác giáo dục 

Từ khi nước ta giành độc lập bằng Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Bác Hồ lãnh đạo nhân dân ta kháng chiến, kiến quốc, trong đó có hoạt động giáo dục. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định những tư tưởng cơ bản của triết lý giáo dục nước ta. Triết lý ấy thể hiện ở mục tiêu giáo dục toàn diện, hồng và chuyên, đức với tài; phương thức giáo dục là lý luận gắn liền với thực tế, học đi đôi với hành, nhà trường gắn với xã hội, kết hợp giáo dục nhà trường với gia đình và xã hội… 

Những tư tưởng quan trọng ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã soi sáng hoạt động giáo dục nước ta suốt hơn 60 năm qua và đạt được những kết quả to lớn, đào tạo những lớp người yêu nước, có ý chí độc lập, tự chủ, có phẩm chất chính trị, đạo đức trong sáng, vững vàng, có tinh thần vượt khó vươn lên làm chủ các kiến thức khoa học, kỹ thuật, phục vụ hết mình vì sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. 

Trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập hiện nay, xã hội hoá công tác giáo dục vẫn trên nền tảng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về triết lý giáo dục của Người. Tư tưởng đó thực chất đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin, vận dụng sáng tạo vào điều kiện Việt Nam.

Đảng ta đã khẳng định “xã hội hoá” là một trong những quan điểm để hoạch định hệ thống các chính sách xã hội. Nghị quyết lần 2 Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIII (1996) chỉ rõ: “Giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân”.[ 42]

Nghị định số 73/1999/NĐ-CP về chính sách xã hội hóa, nhằm khuyến khích, huy động các nguồn lực trong nhân dân, trong các tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế để phát triển các hoạt động xã hội hóa lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao. [33]

Đến Nghị quyết TW 6 khoá IX, Đảng đã khẳng định: “Đẩy mạnh xã hội hoá sự nghiệp giáo dục, xây dựng xã hội học tập, coi giáo dục là sự nghiệp của toàn dân, là giải pháp quan trọng để tiếp tục phát triển giáo dục”. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (2006) đã chỉ rõ: “Thực hiện xã hội hoá giáo dục. Huy động nguồn lực, vật chất và trí tuệ của xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục. Phối hợp chặt chẽ giữa ngành giáo dục với các ban ngành, các tổ chức chính trị – xã hội, xã hội – nghề nghiệp,… để mở mang giáo dục, tạo điều kiện học tập cho mọi thành viên trong xã hội” [45] 

Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 5 năm 2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường; Quyết định số 20/2005/QĐ-BGD&ĐT ngày 24 tháng 6 năm 2005 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc phê duyệt đề án “Quy hoạch phát triển Xã hội hoá công tác giáo dục giai đoạn 2005 – 2010” ([31], [38]) 

Luật Giáo dục 2005 ở Điều 12. Xã hội hóa sự nghiệp giáo dục nêu “ Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; thực hiện đa dạng hóa các loại hình trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục. Mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và an toàn”. [22] 

Công văn số 312/CV.SGDĐT, ngày 02 tháng 6 năm 2011 của Sở Giáo dục và Đào tạo Vĩnh Long về việc xây dựng kế hoạch thực hiện xã hội hóa công tác giáo dục giai đoạn 2011– 2015; Công văn số 512/CV.PGDĐT, ngày 14 tháng 01 năm 2012 của Phòng Giáo dục và Đào tạo Vũng Liêm về việc thực hiện xã hội hoá công tác giáo dục, xã hội học tập.[15]

Tóm lại xã hội hóa công tác giáo dục là một tư tưởng chiến lược lớn của Đảng, đây là con đường, biện pháp tiên quyết để xây dựng hệ thống giáo dục lớn mạnh, “ Giáo dục là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân tố con người, động lực trực tiếp của sự phát triển”, phù hợp với giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội nước ta hiện nay đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và từng địa phương. 

2. Các khái niệm cơ bản 

2.1. Khái niệm về quản lý giáo dục 

Giáo dục là một hiện tượng đặc biệt của xã hội loài người; bản chất của giáo dục là truyền thụ và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử của xã hội loài người từ thế hệ này sang thế hệ khác. Hiện nay nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam đều thừa nhận giáo dục có vị trí, vai trò to lớn đối với sự phát triển của xã hội loài người, đối với việc hình thành phát triển nhân cách và phẩm chất con người. Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định “Giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế – xã hội; giáo dục là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển bền vững” [44] 

Theo P.V.Khuđominxky định nghĩa: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức, có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo việc giáo dục cộng sản cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hoà của họ trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật khách quan của quá trình dạy học và giáo dục, của sự phát triển thể chất của tâm lý và trẻ em”. [29] 

Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII viết: “Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn hiệu quả nhất”[40] 

M.I.Khônđacôp đã định nghĩa: “ Quản lý giáo dục là tập hợp các biện pháp, (tổ chức cán bộ, giáo dục, kế hoạch hóa, tài chính,…) nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng” [28]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của các chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất. Quản lý giáo dục là sự tác động của hệ thống quản lý giáo dục của Nhà nước từ TW đến địa phương, đến khách thể quản lý và hệ thống giáo dục quốc dân và sự nghiệp giáo dục của mỗi địa phương nhằm đưa hoạt động giáo dục đến kết quả mong muốn” [34] 

Quản lý giáo dục là quá trình tác động của chủ thể quản lý vào toàn bộ hoạt động giáo dục nhằm thúc đẩy giáo dục phát triển theo mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã xác định. Quản lý giáo dục được thể hiện thông qua quản lý mục tiêu, chương trình đào tạo quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học, quản lý đội ngũ cán bộ, giáo viên, quản lý người học và chất lượng giáo dục và đào tạo. Với nhiều góc độ tiếp cận khác nhau có thể cho thấy, quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội. 

2.2. Khái niệm về nhà trường và nhiệm vụ của nhà trường

Nhà trường là một bộ phận quan trọng của hệ thống giáo dục quốc dân, là tổ chức giáo dục cơ sở trực tiếp làm công tác giáo dục và đào tạo, vừa mang tính giáo dục vừa mang tính xã hội, trực tiếp đào tạo thế hệ trẻ, nó là tế bào chủ chốt của bất kỳ hệ thống giáo dục nào từ trung ương đến địa phương. Tại điều 48 của Luật Giáo dục 2005 đã khẳng định: “Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân, thuộc mọi loại hình đều được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục” [22] 

Luật giáo dục 2005, Điều 58. Quy định nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trường là: “Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chương trình giáo dục; xác nhận hoặc cấp văn bằng, chứng chỉ theo thẩm quyền; Tuyển dụng, quản lý nhà giáo, cán bộ, nhân viên; tham gia vào quá trình điều động của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền đối với nhà giáo, cán bộ, nhân viên; Tuyển sinh và quản lý người học; Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực theo quy định của pháp luật; Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa; Phối hợp với gia đình người học, tổ chức, cá nhân trong hoạt động giáo dục; Tổ chức cho nhà giáo, cán bộ, nhân viên và người học tham gia các hoạt động xã hội; Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục của cơ quan có thẩm quyền kiểm định chất lượng giáo dục; Các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật”. [22] 

2.3. Khái niệm về xã hội hoá công tác giáo dục 

Xã hội hoá công tác giáo dục là huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước để xây dựng một xã hội học tập; là việc thực hiện mối liên hệ phổ biến giữa hoạt động giáo dục và cộng đồng xã hội, làm cho giáo dục phù hợp với sự phát triển của xã hội, thích ứng với xã hội, duy trì sự cân bằng giữa hoạt động giáo dục và xã hội. 

Xã hội hoá công tác giáo dục là làm cho hoạt động giáo dục mang tính xã hội. Trong đó người đi giáo dục và người được giáo dục trong mọi hoạt động về nội dung và phương thức thực hiện, kết quả đạt được đều mang tính xã hội, tính chuẩn mực xã hội rất cao. Giáo dục nhằm bồi đắp cho người học tư tưởng, hình thành ý thức chính trị, nhân cách, bản lĩnh dân tộc cùng với những tri thức khoa học, kỹ thuật, văn hoá, đạo đức, lối sống.

Xã hội hoá công tác giáo dục là đa dạng hoá các loại hình giáo dục; là quá trình trao đổi những kinh nghiệm, đổi mới nội dung chương trình, phương pháp, hình thức, phương tiện giáo dục một cách phù hợp với đối tượng và điều kiện nước ta. 

Việt Nam, xã hội hóa công tác giáo dục là điều kiện cần thiết và tất yếu để phát triển giáo dục và đào tạo; là chủ trương đúng đắn mang tính chiến lược của Đảng. “xã hội hóa công tác giáo dục là chính sách huy động mọi nguồn lực của nhân dân, của các tổ chức kinh tế – xã hội tham gia vào sự nghiệp giáo dục, đầu tư vào hoạt động giáo dục trên cơ sở phù hợp với khả năng tài chính và trình độ chuyên môn nhằm xây dựng xã hội học tập”. ([45], [46]) 

Văn kiện Đại hội IX của Đảng có nêu: “Thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác giáo dục, phát triển đa dạng các hình thức đào tạo, đẩy mạnh việc xây dựng các quỹ khuyến khích phát triển tài năng, các tổ chức khuyến học, bảo trợ giáo dục”. [44]

Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ X nhấn mạnh: “Đổi mới cơ cấu tổ chức, nội dung, phương pháp dạy và học theo hướng “Chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa”. Phát huy trí sáng tạo, khả năng vận dụng, thực hành của người học. Đề cao trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội. Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở – mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời”.[45] 

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI tiếp tục khẳng định: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách xã hội hóa công tác giáo dục, đào tạo, trên ba phương diện: động viên các nguồn lực trong xã hội; phát huy vai trò giám sát của công đồng; khuyến khích các hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện để người dân được học tập suốt đời”.[45] 

Như vậy xã hội hóa công tác giáo dục là một quá trình mà cả cộng đồng và xã hội cùng tham gia vào giáo dục. Trong đó mọi tổ chức xã hội, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện các mục tiêu giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và an toàn. 

2.3.1. Bản chất, vai trò của xã hội hóa công tác giáo dục 

Bản chất của xã hội hóa công tác giáo dục 

Mác quan niệm: “ Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” [30], nhân cách con người hình thành dưới tác động các mối quan hệ xã hội và thông qua các hoạt động giáo dục. Đó là cơ sở khoa học để chứng minh rằng xã hội hóa công tác giáo dục là việc làm thích hợp để trả lại cho giáo dục bản chất xã hội vốn có của nó. 

Xã hội được xem như sự hợp thành của các thành phần là nhà trường, gia đình, xã hội. Trong cấu trúc xã hội, giáo dục nằm trong các thành phần này, vì thế giáo dục không còn là trách nhiệm riêng một mình ngành giáo dục mà là của tất cả mọi thành phần, đòi hỏi có sự tham gia, gánh vác của toàn xã hội. Cho nên đa dạng hóa các loại hình cung cấp dịch vụ và huy động, thu hút các tổ chức chính trị – xã hội, các ngành đoàn thể, các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân,… cùng tham gia vào sự nghiệp phát triển giáo dục dưới sự quản lý của Nhà nước để góp phần giáo dục cho trẻ em trong độ tuổi. Đó là bản chất của xã hội hóa công tác giáo dục.

Vai trò của xã hội hóa công tác giáo dục

Xã hội hoá công tác giáo dục góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. 

Xã hội hoá công tác giáo dục huy động được các nguồn lực, tiềm năng của xã hội, khắc phục khó khăn trong quá trình phát triển giáo dục. 

Xã hội hoá công tác giáo dục tạo sự công bằng, trách nhiệm, dân chủ trong hưởng thụ. 

Xã hội hoá công tác giáo dục góp phần nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước về giáo dục… 

2.3.2. Ý nghĩa của việc thực hiện xã hội hóa công tác giáo dục 

Thực hiện xã hội hóa công tác giáo dục là tạo ra một “xã hội học tập” góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho cộng đồng. Mở rộng hình thức giáo dục thường xuyên, tăng cường quy mô, hình thức dạy học cho toàn dân phấn đấu thực hiện tốt giáo dục toàn diện: đức, trí, thể, mỹ, lao động. Coi trọng giáo dục tư tưởng chính trị, chú ý hình thành tư duy sáng tạo và năng lực thực hành cho người học… xã hội hóa công tác giáo dục góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, tạo nên những điều kiện vật chất và tinh thần để nâng cao chất lượng giáo dục; làm cho giáo dục thực sự phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương, phục vụ trực tiếp lợi ích cho từng cá nhân; tạo điều kiện cho mục đích của giáo dục phù hợp với mục đích của từng cá nhân tham gia giáo dục. Tạo điều kiện làm phong phú hơn cho nội dung và phương pháp giáo dục; thực hiện công bằng xã hội và dân chủ hoá giáo dục, nhờ dân chủ hóa mà mở rộng LLXH tham gia giáo dục, làm cho mọi người hiểu được giáo dục không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội, của mỗi gia đình, từng cá nhân người đi học.

2.3.3. Điều kiện thực hiện xã hội hóa công tác giáo dục 

Xã hội hoá công tác giáo dục thực chất là nhằm xóa bỏ mọi hình thức áp đặt của cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, khơi dậy tiềm năng sáng tạo, năng động và nội lực to lớn trong mọi tầng lớp nhân dân để thúc đẩy sự phát triển của giáo dục và đào tạo phù hợp và đáp ứng sự phát triển của thời đại. Các điều kiện thực hiện Xã hội hoá công tác giáo dục: 

Dân chủ, công khai quá trình tổ chức và quản lý 

Nâng cao nhận thức và thực hiện các văn bản, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa công tác giáo dục 

Đa dạng hóa giáo dục và đào tạo 

Xây dựng và phát triển các tổ chức khuyến học 

Xây dựng và đẩy mạnh hoạt động phối hợp giữa xã hội với nhà trường và gia đình 

Tổ chức Đại hội ban đại diện cha mẹ học sinh các cấp 

2.3.4. Bản chất của việc thực hiện xã hội hóa công tác giáo dục ở trường THCS 

Chủ trương xã hội hóa đã đem lại nhiều thay đổi cơ bản trong tổ chức và quản lý giáo dục, tạo ra động lực và phát huy mọi nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục. Tuy nhiên, phải hiểu đúng bản chất của Xã hội hoá công tác giáo dục mới mong tạo ra đội ngũ trí thức, nguồn nhân lực chất lượng đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 5 năm 2008 của Chính phủ về đẩy mạnh XHH các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao của Chính phủ khẳng định rằng “xã hội hóa không phải là giải pháp tình thế chỉ nhằm mục đích huy động lực lượng xã hội đóng góp tài chính và vật chất cho giáo dục THCS khi ngân sách nhà nước còn khó khăn…” [31] 

Bản chất của xã hội hoá công tác giáo dục ở trường Trung học cơ sở là giải pháp nhằm tháo gỡ những bế tắc, để nhằm đạt được những mục tiêu thiết yếu của giáo dục THCS và nhà nước giữ vai trò quản lý; là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào phát triển sự nghiệp giáo dục THCS. Xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân và các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị xã hội, các doanh nghiệp địa phương và của từng người dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế – xã hội lành mạnh thuận lợi cho hoạt động giáo dục THCS, mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác tiềm năng về nhân lực, vật lực tài lực và nguồn lực phi vật chất trong xã hội, phát huy và sử dụng có hiệu quả nguồn các lực này. Để thực hiện có hiệu quả Xã hội hoá công tác giáo dục THCS cần quán triệt đầy đủ các vấn đề sau: 

Nâng cao nhận thức trong cán bộ, giáo viên và các lực lượng xã hội. 

Cộng đồng hoá trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể thực hiện Xã hội hoá công tác giáo dục THCS. 

Đa dạng hoá các loại hình giáo dục THCS. 

Đa phương hoá các hình thức huy động, thu hút các nguồn lực cho giáo dục THCS. Nhà nước, nhân dân từ trung ương đến địa phương, ngành giáo dục và các ngành hữu quan, trong nước và ngoài nước.

Thể chế hoá chủ trương xã hội hóa công tác giáo dục thành các quy định, chế tài đối với nghĩa vụ, trách nhiệm của các lực lượng xã hội đối với việc tham gia vào giáo dục THCS

Như vậy xã hội hoá công tác giáo dục ở trường THCS là lôi cuốn mọi lực lượng xã hội cùng tham gia vào sự nghiệp phát triển giáo dục THCS để thực hiện chăm sóc và giáo dục cho trẻ em trong độ tuổi. Xã hội hoá công tác giáo dục THCS cũng phản ánh bản chất của vấn đề “Giáo dục cho tất cả mọi người; tất cả cho sự nghiệp giáo dục”. ([24], [33], [44]) 

2.3.5. Vai trò của xã hội hóa công tác giáo dục ở trường THCS trong giai đoạn hiện nay 

Trong điều kiện kinh tế xã hội nước ta, các hình thức và tổ chức giáo dục THCS bằng con đường bao cấp là không thể thực hiện được vì quá khả năng về kinh tế. Mặt khác, nền kinh tế thị trường lại tăng thêm áp lực cho các gia đình khó khăn, nghèo làm hạn chế cơ hội đến trường của mọi người. Vì vậy xã hội hoá công tác giáo dục THCS là để khai thác các tiềm năng của xã hội. 

Xã hội hoá công tác giáo dục THCS góp phần nâng cao chất lượng giáo dục THCS, tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển nhân cách và chuẩn bị tốt các điều kiện cho học sinh bước vào giáo dục trung học phổ thông. Vì nó không những có tác động mạnh mẽ quá trình nâng cao mặt bằng dân trí, tạo nguồn nhân lực chất lượng và trình độ kỹ thuật mà còn tạo sự chuyển biến về nhận thức đối với mọi người về vị trí, vai trò của giáo dục THCS đối với tương lai của đất nước. 

Xã hội hoá công tác giáo dục THCS tạo ra sự công bằng, dân chủ trong hưởng thụ và trách nhiệm xây dựng giáo dục THCS, khi thực hiện xã hội hoá công tác giáo dục là xây dựng được cộng đồng trách nhiệm để mọi người cùng tham gia thực hiện và được hưởng thụ giáo dục. 

Vì thế xã hội hoá công tác giáo dục THCS chính là phương thức tích cực góp phần nâng cao chất lượng giáo dục THCS. 

2.4. Khái niệm về quản lý xã hội hoá công tác giáo dục 

Quản lý xã hội hóa công tác giáo dục là quá trình tác động của chủ thể quản lý vào hoạt động xã hội hóa công tác giáo dục nhằm thúc đẩy giáo dục phát triển theo mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã xác định. Khi thực hiện quản lý xã hội hóa công tác giáo dục trước hết là xây dựng cơ chế vận hành của hoạt động xã hội hóa, tạo hành lang pháp lý để hoạt động xã hội hóa đi đúng theo mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đặt ra. 

Quản lý xã hội hóa công tác giáo dục là quản lý sự phối hợp các LLXH tham gia vào các hoạt động giáo dục trẻ ở lứa tuổi học sinh. Quản lý nguồn đầu tư từ ngân sách nhà nước và các nguồn kinh phí khác. Các cấp chính quyền, các cơ sở giáo dục, các tổ chức chính trị – xã hội phải được tham gia hoạch định xã hội hóa công tác giáo dục. 

3. Những nội dung cơ bản của việc quản lý xã hội hóa công tác giáo dục ở các trường THCS hiện nay 

Quản lý xã hội hóa công tác giáo dục THCS không hoàn toàn là công việc của Các trường THCS nhưng với chức năng của mình các trường THCS chủ yếu làm công tác tham mưu, vận động, tuyên truyền để xã hội nhận thức đầy đủ hơn về quản lý xã hội hóa công tác giáo dục THCS, chia sẻ khó khăn với giáo dục, cộng đồng trách nhiệm và tham gia vào quá trình phát triển giáo dục và đào tạo. Tuy nhiên trong một chừng mực nhất định, các trường THCS trực tiếp chỉ đạo và quản lý hoạt động xã hội hóa trong các nhà trường, giúp cho công tác xã hội hóa đi đúng hướng và có kết quả cao. 

3.1. Quản lý việc nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên và xã hội 

Những công việc phải tiến hành là tuyên truyền, phổ biến các văn bản của Đảng, Nhà nước, của Ngành giáo dục về quản lý xã hội hóa công tác giáo dục ở trường THCS, nâng cao nhận thức về vai trò quản lý xã hội hóa công tác giáo dục cho cán bộ quản lý, người làm giáo dục và cơ quan Đảng, chính quyền, mặt trận tổ quốc, các đoàn thể chính trị, xã hội,… thông qua tập huấn, hội nghị, hội thảo, tọa đàm, tư vấn, xây dựng góc tuyên truyền, biên soạn tài liệu,… chú trọng đến nội dung của quản lý xã hội hóa công tác giáo dục, để cho mọi người hiểu đúng tầm quan trọng, vai trò của quản lý xã hội hóa công tác giáo dục. Tăng cường xây dựng môi trường giáo dục đồng bộ, tạo được sự phối hợp chặt chẽ giữa ba môi trường nhà trường, gia đình và xã hội để giúp cho cán bộ quản lý, người làm giáo dục và LLXH nắm được, hiểu và vận dụng có hiệu quả góp phần phát triển giáo dục THCS. 

3.2. Quản lý việc huy động các lực lượng xã hội xây dựng môi trường thuận lợi nhất để phát triển giáo dục 

Xây dựng và hoàn thiện dần cơ chế phối hợp giữa nhà trường, gia đình và các lực lượng xã hội trong việc tổ chức tham gia cùng làm giáo dục; phân bổ và sử dụng hợp lý nguồn ngân sách nhà nước và tiềm năng xã hội hợp lý; mở rộng khả năng đóng góp của mọi người cho giáo dục THCS; tổ chức các hoạt động, phong trào để tạo động lực trong việc huy động tiềm năng xã hội để phát triển giáo dục THCS; phát huy truyền thống dân tộc, lễ hội và cá nhân; đẩy mạnh hợp tác quốc tế về giáo dục THCS. 

3.3. Quản lý việc tổ chức các lực lượng xã hội để cùng tham gia xây dựng mục tiêu, nội dung giáo dục ở trường THCS 

Quản lý xã hội hoá công tác giáo dục về nội dung, chương trình giáo dục. Giáo dục là hoạt động tuân theo quy luật nhận thức của con người từ thấp đến cao, từ hẹp đến rộng, từ nông đến sâu… Việc xây dựng nội dung chương trình giáo dục cần phải tuân theo quy luật nhận thức đó.

Điều quan trọng trong quản lý xã hội hóa công tác giáo dục là nhà trường cần quan tâm giải quyết các mâu thuẫn, đã từng kéo dài và gây ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục; tìm ra và trang bị cho người học những kiến thức mới phổ biến trong xã hội; huy động các LLXH tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình giáo dục tùy theo khả năng của mỗi lực lượng để xây dựng kế hoạch phát triển giáo dục ở địa phương, góp ý vào nội dung và phương pháp giáo dục ở mỗi mức độ nhất định. 

3.4. Quản lý việc huy động các lực lượng xã hội tham gia xây dựng, phát triển hệ thống trường lớp và các loại hình giáo dục THCS 

Thực hiện quản lý xã hội hoá công tác giáo dục trong lĩnh vực này bằng cách huy động các nguồn đóng góp tài chính của xã hội qua thuế và các nguồn thu khác để nhà nước trực tiếp quản lý, để thực hiện đa dạng hoá cấp học, ngành học; đa dạng hoá phương thức và hình thức giáo dục THCS cho phù hợp với kinh tế thị trường. Trên cơ sở củng cố các loại hình công lập, lấy đó làm nòng cốt, mở ra nhiều hình thức giáo dục THCS, phát triển các loại hình ngoài công lập, tạo cơ hội cho mọi người nâng cao trình độ, tiếp cận những vấn đề mới, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào đời sống. Đó cũng là một cách để xã hội hoá giáo dục. 

3.5. Quản lý việc huy động các lực lượng xã hội đầu tư các nguồn lực cho giáo dục phát triển

Nguồn lực con người là quý giá nhất, để tạo ra một xã hội học tập góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước là công việc có ý nghĩa to lớn. Nhà trường phải luôn tích cực huy động các LLXH tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình giáo dục tùy theo khả năng của mỗi lực lượng; vận động thu hút sự tham gia của các LLXH vào nội dung hoạt động của nhà trường, đa dạng hóa hình thức huy động mọi nguồn lực đóng góp tài lực, vật lực, trí tuệ,… thực hiện quản lý xã hội hóa công tác giáo dục THCS. Tăng cường công tác chỉ đạo của Đảng, quản lý của nhà nước đồng thời phát huy vai trò chủ động nòng cốt của ngành giáo dục và trường THCS; tổ chức phối hợp với các ban ngành, đoàn thể tham gia vào phát triển giáo dục THCS. Nếu có nhiều nội dung, hình thức hoạt động quản lý xã hội hóa công tác giáo dục có sự tham gia của toàn xã hội sẽ mở rộng và làm phong phú, sáng tạo các hoạt động đó.